Khô hạn đỉnh điểm, ‘mơ’ về mưa nhân tạo
03-03-2016 11:41

(Tổ Quốc)-Sau 10 năm, tương lai về một dự án mưa nhân tạo ở Việt Nam vẫn đang là câu: tiếp tục chờ nghiên cứu.

>>Thủ tướng: Ưu tiên nước cho người dân
>>Tìm đủ cách "né" hạn mặn
>>Nhà máy nước 'đắp chiếu' vì khô hạn

Trước tình hình khô hạn, xâm nhập mặn đang diễn ra nghiêm trọng tại miền Trung, Tây Nguyên và Nam bộ, báo Điện tử Tổ Quốc đã có cuộc phỏng vấn với PGS.TS Vũ Thanh Ca, Vụ trưởng Vụ hợp tác quốc tế và khoa học công nghệ, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam về dự án gây mưa nhân tạo từng "dậy sóng" dư luận một thời.

Ông từng là trưởng nhóm nghiên cứu cấp Bộ  (Bộ Tài nguyên và Môi trường) về đề tài gây mưa nhân tạo ở Việt Nam của Viện Khoa học Khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu.

Khô hạn đỉnh điểm, ‘mơ’ về mưa nhân tạo - ảnh 1
Khô hạn đang ảnh hưởng nặng nề tới đời sống, sản xuất của người dân (nguồn ảnh: Báo Thanh Niên)

- Thưa ông, “số phận” đề tài gây mưa nhân tạo tới thời điểm này như thế nào rồi?

+ Khoảng năm 2003-2005, có nhiều ý kiến trên truyền thông rằng mưa nhân tạo là giải pháp hiệu quả cho chống hạn hán, cháy rừng. Năm 2002, sau khi thành lập Bộ Tài nguyên, Môi trường, lãnh đạo bộ có chỉ đạo Viện Khoa học Khí tượng thủy văn và môi trường nghiên cứu và trả lời bộ về việc triển khai thực hiện dự án mưa nhân tạo tại Việt Nam và nếu hiệu quả sẽ đề xuất với bộ về phương án triển khai thực hiện dự án mưa nhân tạo tại Việt Nam.

Khi ấy, phong trào nghiên cứu và thực hiện mưa nhân tạo rất rầm rộ trên thế giới. Thật ra, thí nghiệm đầu tiên về tác động lên mây đã được thực hiện vào cuối những năm 40 của Thế kỷ XX. Vào những năm 50 của thế kỷ này, nhiều nước, đặc biệt là Mỹ và Liên Xô đã tập trung nghiên cứu về vấn đề này.  

Lãnh đạo Bộ Tài nguyên Môi trường, đặc biệt là Thứ trưởng Nguyễn Công Thành, lúc đó đã chỉ đạo Viện chúng tôi nghiên cứu, đánh giá thật kỹ hiệu quả các công nghệ làm mưa nhân tạo của các nước trên thế giới và đề xuất xây dựng dự án làm mưa nhân tạo để chống hạn ở Việt Nam.

Khi đó, ngoài Nga, một số nhóm nhà khoa học tại Mỹ và Israel cũng công bố những phương pháp và công nghệ mới để tác động lên mây làm mưa nhân tạo. Cạnh ta thì có Trung Quốc, Thái Lan cũng đầu tư rất lớn cho những nghiên cứu. Thực tế, họ đã triển khai nhiều dự án làm mưa nhân tạo để chống hạn, làm sạch không khí và nhiều mục đích khác. Đặc biệt, theo số liệu của các nhà khoa học Nga và Trung Quốc, giá thành nước làm từ mưa nhân tạo rất rẻ.

Mặc dù có nguồn kinh phí không lớn vì đây chỉ là một đề tài cấp Bộ, nhưng được sự hỗ trợ của nhiều cơ quan, đặc biệt là Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ trong việc liên hệ, sắp xếp chương trình hợp tác với các nước, đề tài đã mời được nhiều chuyên gia nổi tiếng nhất thế giới về tác động lên mây và làm mưa nhân tạo từ Mỹ, Nga sang Việt Nam phối hợp nghiên cứu, tổ chức hội thảo về làm mưa nhân tạo ở Việt Nam. Nhóm nghiên cứu cũng đi Nga, Thái Lan và Trung Quốc để học tập kinh nghiệm làm mưa nhân tạo.

Cần chú ý rằng không chỉ Trung Quốc, Nga và Thái Lan, hai nhóm nhà khoa học Mỹ hợp tác với nhóm nghiên cứu cũng tuyên bố là công nghệ của họ rất hiệu quả trong việc làm mưa nhân tạo và họ sẵn sang chuyển giao công nghệ cho Việt Nam. Một nhóm các nhà khoa học Israel cũng đã chuyển giao miễn phí cho nhóm nghiên cứu một mô hình số trị mã nguồn mở về mô phỏng rất chi tiết các quá trình vi vật lý mây và tác động lên mây để làm mưa nhân tạo. Mô hình có thể được sử dụng để thực hiện các thực nghiệm số trị, tìm phương án tốt nhất để làm mưa nhân tạo. Các nhà khoa học Mỹ cũng đã chuyển giao miễn phí cho chúng tôi một mô hình số trị dự báo thời tiết với thời hạn cực ngắn (2 đến 3 giờ) với độ chính xác cao sử dụng các số liệu của ra đa số hóa để phục vụ nghiên cứu và tác nghiệp làm mưa nhân tạo cũng như để cảnh báo các hiện tượng thời tiết nguy hiểm.

Tuy nhiên, vì đầu tư làm mưa nhân tạo cần một lượng kinh phí rất lớn nên thực hiện chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ, nhóm nghiên cứu đã tập trung vào các nghiên cứu đánh giá hiệu quả thực sự của các dự án làm mưa nhân tạo trên thế giới. Chúng tôi đã rà soát tất cả các kết quả đánh giá, chủ yếu của các nhà khoa học Mỹ về các dự án làm mưa nhân tạo. Theo đó, việc làm mưa nhân tạo chỉ được coi là thành công nếu thỏa mãn ba điều kiện: (1) giải thích được cơ chế vật lý của việc tăng lượng mưa do tác động làm mưa nhân tạo; (2) các kết quả phải đảm bảo độ tin cậy thống kê; (3) Kết quả làm mưa nhân tạo phải được lặp lại với các điều kiện mây và tác động tương tự như nhau, hay nói cách khác, công nghệ được nghiên cứu và phát triển tại vùng này phải áp dụng được một cách hiệu quả tại các vùng khác.

Nhóm nghiên cứu đã phối hợp với một số nhà khoa học Mỹ để làm rõ và đánh giá các kết quả nghiên cứu và thực nghiệm làm mưa nhân tạo trước đó. Kết quả cho thấy hầu như các nghiên cứu trên thế giới đều giải thích rõ được cơ chế tác động để biến mây thành mưa, nhưng không giải thích rõ được cơ chế tăng lượng mưa tới mức thương mại được khi tác động.

Tại một cuộc họp ở Thái Lan, trên cơ sở những kết quả nghiên cứu chung với các nhà khoa học Mỹ, chúng tôi đã chỉ ra rằng các trận mưa có lượng mưa đủ để cải thiện đáng kể tình trạng hạn hán phải có nguồn cung cấp lượng ẩm từ các quá trình hoàn lưu quy mô lớn. Tác động làm mưa nhân tạo tại một quy mô rất nhỏ không thể huy động đủ lượng ẩm để tạo ra một trận mưa để làm thay đổi đáng kể tình trạng khô hạn. Hay nói một cách khác, có thể tạo mưa từ tác động, nhưng lượng mưa tạo được không hiệu quả về mặt kinh tế…

Kết thúc đề tài, chúng tôi đã xây dựng dự thảo Báo cáo khả thi cho Dự án làm mưa nhân tạo ở Việt Nam. Báo cáo đã nêu một cách trung thực các kết quả nghiên cứu, việc chuẩn bị nguồn nhân lực, mua sắm trang thiết bị và chuyển giao công nghệ cũng như lộ trình thực hiện dự án. Tuy nhiên, khi báo cáo, Lãnh đạo Bộ nhận thấy rằng hiện tại trình độ khoa học, công nghệ của ta còn hạn chế, phương tiện, thiết bị còn lạc hậu, phải đầu tư một lượng kinh phí rất lớn nhưng chưa khẳng định được hiệu quả. Vì vậy, Lãnh đạo Bộ đã chỉ đạo chưa triển khai thực hiện ngay dự án làm mưa nhân tạo mà tiếp tục nghiên cứu cho tới khi khẳng định được hiệu quả kinh tế của việc làm mưa nhân tạo.

- Còn nhớ các phương tiện thông tin đại chúng từng đưa tin rằng, tới năm 2010, Việt Nam có mưa nhân tạo?

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi có tổ chức một số hội thảo, mời các nhà khoa học và các phương tiện thông tin đại chúng tham gia. Tại Hội thảo, các nhà khoa học nước ngoài và chúng tôi có trình bày các công nghệ làm mưa nhân tạo, các phương án chuyển giao công nghệ và đề xuất lộ trình đầu tư làm mưa nhân tạo ở Việt Nam. Theo đó, việc triển khai làm mưa nhân tạo có thể được thực hiện vào năm 2010. Các thông tin nêu trên đã được lấy từ các hội thảo này. Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, được sự khuyến cáo của các nhà khoa học Mỹ, Lãnh đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chỉ đạo tạm dừng dự án làm mưa nhân tạo để nghiên cứu thêm.

- Sau đó, nhóm đã đề xuất như thế nào thưa ông? Ông đánh giá như thế nào khi có ý kiến cho rằng, đó là một đề tài gây lãng phí?

Có một số ý kiến "kêu" rằng đề tài đó là lãng phí. Tuy vậy, nghiên cứu khoa học là để cung cấp luận chứng cho quá trình ra quyết định. Đề tài của chúng tôi đã thực hiện đúng mục tiêu này, nêu rõ những luận chứng khoa học để giúp Lãnh đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường quyết định có xây dựng và triển khai một dự án đầu tư lớn hay không. Cần chú ý rằng ngoài các kiến nghị về làm mưa nhân tạo, đề tài cũng đã cung cấp nhiều kiến thức về vi vật lý mây, các đề xuất để cải thiện hệ thống ra đa thời tiết cũng như mô hình số trị dự báo thời tiết để nâng cao chất lượng dự báo thời tiết và góp phần đào tạo nguồn nhân lực. Với toàn bộ kinh phí của đề tài trong hai năm khoảng 970 triệu đồng và các kết quả đạt được, tôi cho rằng đề tài là không lãng phí.

- Các hình thái thời tiết cực đoan ngày càng lớn, hạn hán còn có thể sẽ xảy ra và khốc liệt hơn, liệu có giải pháp nào cho vấn đề này thưa ông?

+ Biến đổi khí hậu hiện đang rất phức tạp, nhưng nó làm gia tăng hạn hán tới mức nào thì cần phải có các nghiên cứu thêm. Các kết quả phân tích các số liệu hiện có cho thấy trong những năm gần đây lượng mưa mùa khô có xu hướng tăng lên ở khu vực miền Bắc nhưng lại có xu hướng giảm đi ở khu vực miền Nam. Trong đề tài, chúng tôi đã đề xuất phương án hiệu quả nhất để chống hạn là nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nước. Thật ra, đây cũng là những khuyến cáo của những nhà khoa học Mỹ và nhiều nhà khoa học khác. Hiện tại, việc quản lý nguồn nước ở Việt Nam, nhất là ở đồng bằng Nam Bộ rất khó khăn. Điều này là do có quá nhiều đập thủy điện được xây dựng ở đầu nguồn. Lượng nước thượng nguồn về ít sẽ làm gia tăng xâm nhập mặn, ảnh hưởng rất nghiêm trọng tới việc cấp nước sinh hoạt và sản xuất. Ngoài ra, các đập thủy điện còn chặn nguồn phù sa, gây xói lở bờ biển, bờ sông và nhiều hậu quả kinh tế, xã hội, sinh thái và môi trường khác.

- Xin cảm ơn ông!

Song Đào

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại