Quy định khung số lượng cấp phó ngay trong luật
09-04-2015 10:37

(Toquoc)-Trong khuân khổ phiên họp 37, ngày 9/4, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự thảo báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật tổ chức Chính phủ (sửa đổi).

Quy định khung số lượng cấp phó

Theo đề xuất trong dự thảo Luật, số lượng tối đa Thứ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan ngang bộ là 5; số lượng cấp phó của Tổng cục, cục thuộc bộ, cơ quan ngang bộ tối đa là 3; số lượng cấp phó của vụ, văn phòng, thanh tra và các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc bộ, cơ quan ngang bộ là 2.  Nội dung nhận được nhiều ý kiến thảo luận ở thường vụ.

Đây là vấn đề cũng được các Quốc hội đặt ra từ những kỳ họp trước với yêu cầu tránh “loạn” cấp phó mà vẫn đảm bảo chất lượng hoạt động.

Cho rằng số lượng cấp phó ở Bộ, cơ quan ngang bộ là cần thiết nhưng theo Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội Trương Thị Mai: “Nên có quy định số lượng nhưng là khung co giãn để phù hợp với thực tế. Vì nếu quy định mỗi Bộ không quá 5 cấp phó thì đối với một số Bộ lớn, đa ngành liệu có đáp ứng được không?”

Quan điểm này được Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Ksor Phước ủng hộ. ĐB này đề nghị “cân nhắc thêm để có sự linh động, phù hợp với một số Bộ”.

Theo Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cho rằng “muốn chất lượng phải quy định”. Ông cũng đưa ra con số: “không quá 5 là được rồi, vì có Bộ chỉ cần 3, có Bộ cần 5 và với Bộ đa ngành thì số lượng đó cũng là đủ, trừ Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quy định không quá 6. Đối với cấp Tổng cục nên quy định cấp phó không quá 4, cấp Cục không quá 3, cấp Vụ không quá 2.”.

Quy định khung số lượng cấp phó ngay trong luật - ảnh 1
Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến dự thảo Luật tổ chức Chính phủ (sửa đổi)

Trong phần kết luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu nhấn mạnh Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ trình Quốc hội theo hướng xác định rõ số lượng tối đa Thứ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ là 5, trừ Bộ Công an, Bộ Quốc phòng không quá 6; số lượng cấp phó của tổng cục thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ tối đa là 4; số lượng cấp phó của cục, văn phòng, thanh tra và các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc bộ, cơ quan ngang bộ không quá 3.

Tăng thẩm quyền của Thủ tướng

Dự thảo báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật tổ chức Chính phủ (sửa đổi) được trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề xuất, Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền giao quyền Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ trong trường hợp khuyết Bộ trưởng hoặc Thủ trưởng cơ quan ngang bộ trong khi chờ Quốc hội phê chuẩn và Chủ tịch nước bổ nhiệm; Tạm thời giao quyền Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong trường hợp chưa bầu được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thái Bình cho rằng để đảm bảo về vai trò lãnh đạo và chịu trách nhiệm về hoạt động của hệ thống hành chính; bảo đảm tính thống nhất, thông suốt, có hiệu quả trong tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước thì cần quy định thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ trong trường hợp khuyết như trên là phù hợp tinh thần Hiến pháp.

Đồng thời, trên thực tế từ trước đến nay, nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khuyết Chủ tịch UBND (vì lý do sức khỏe, nghỉ hưu, điều động công tác) mà HĐND chưa kịp bổ sung Chủ tịch UBND, Thủ tướng Chính phủ đã có quyêt định chỉ định quyền Chủ tịch UBND cấp tỉnh, khi chức danh này bị khuyết.

Về thẩm quyền quyết định và chỉ đạo thực hiện các biện pháp cụ thể cần thiết để thi hành lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và các biện pháp cần thiết khác để bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm tính mạng, tài sản của nhân dân, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thái Bình cho rằng: “Việc bổ sung quy định nêu trên nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế cần giải quyết kịp thời, nhanh nhạy các tình huống bất thường thuộc trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ với tư cách là người đứng đầu Chính phủ trong hoạt động quản lý điều hành”, Bộ trưởng cho biết.

Tuy nhiên, theo Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, cần cân nhắc về quy định này và nếu bổ sung thì phải quy định cụ thể ngay trong luật: “Khi thi hành tổng động viên, trong trường hợp đó Thủ tướng được quyền gì, biện pháp nào, không thể nói chung chung”.

Dự thảo luật còn được chỉnh lý theo hướng quy định về trách nhiệm báo cáo của Thủ tướng Chính phủ trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước và Nhân dân.

Hai phương án tổ chức chính quyền địa phương

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Phan Trung Lý cho biết, về quy định tổ chức chính quyền địa phương tại địa bàn đô thị, nông thôn sẽ tiếp tục báo cáo 2 phương án.

Phương án 1 quy định tất cả các đơn vị hành chính quy định tại khoản 1 Điều 110 của Hiến pháp năm 2013 đều tổ chức cấp chính quyền địa phương (gồm HĐND và UBND) nhưng làm rõ trong Luật tổ chức chính quyền địa phương những điểm khác biệt về cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở nông thôn, đô thị và hải đảo.

Phương án 2 quy định ở các đơn vị hành chính như tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, xã, thị trấn tổ chức cấp chính quyền địa phương (gồm HĐND và UBND). Riêng ở phường, do đặc điểm đô thị, không tổ chức cấp chính quyền địa phương, chỉ tổ chức UBND để thực hiện nhiệm vụ của chính quyền địa phương tại phường

 

L.Đỗ- M.Thành

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại