Xung quanh việc lãnh đạo Trung tâm triển lãm VHNT VN bị tố sai phạm: Nhiều nội dung không đúng và không có cơ sở
(Tổ Quốc) -Bộ VHTTDL đã có văn bản số 2249/BVHTTDL-TTr về việc công bố Báo cáo kết quả kiểm tra, xác minh, theo đó cho biết nhiều nội dung “tố cáo” là không đúng, không chính xác và không có cơ sở…
Thứ Bảy, ngày 08/07/2017 - 09:57

Những ngày cuối tháng 4 và trong tháng 5 vừa qua, một số phương tiện thông tin đại chúng đã đăng, phát về những dấu hiệu tiêu cực tại Trung tâm Triển lãm Văn hóa, nghệ thuật Việt Nam (gọi tắt là Trung tâm) chủ yếu dựa trên đơn thư tố cáo, trong đó tập trung vào ông Dương Văn Quynh, Giám đốc Trung tâm. Mới đây, Bộ VHTTDL đã có văn bản số 2249/BVHTTDL-TTr về việc công bố Báo cáo kết quả kiểm tra, xác minh, theo đó cho biết nhiều nội dung “tố cáo” là không đúng, không chính xác và không có cơ sở…

Theo Báo cáo của Tổ công tác tiến hành kiểm tra, xác minh, kết luận, đề xuất biện pháp xử lý đối với các nội dung liên quan đến ông Dương Văn Quynh, Giám đốc Trung tâm dựa trên báo cáo của bà Đặng Thị Ngọc Bích, Phó giám đốc Trung tâm về việc ông Quynh không thông qua Ban Giám đốc kế hoạch các cuộc triển lãm, đã được kết luận: Theo các quy chế của Trung tâm không có quy định về việc Giám đốc phải tham khảo ý kiến của tất cả các Phó Giám đốc về việc xây dựng kế hoạch và dự toán đối với từng cuộc triển lãm. Đây là hoạt động chuyên môn đã được Giám đốc phân công cho Phó Giám đốc phụ trách chuyên môn và Phòng Nghiệp vụ triển lãm thực hiện. Báo cáo của bà Đặng Thị Ngọc Bích về nội dung này là không có cơ sở.

Về nội dung ông Quynh không công khai các hợp đồng trước khi triển khai công việc, Tổ công tác của Bộ nêu rõ: Theo quy định của pháp luật và các quy định của Trung tâm, các hợp đồng kinh tế không thuộc đối tượng phải công khai đến toàn thể công chức, viên chức và người lao động trong đơn vị. Báo cáo của bà Bích là không có cơ sở; hay về việc không ký hợp đồng trước khi thực hiện cho thuê mặt bằng để tổ chức triển lãm cũng được Tổ công tác kết luận: Theo hợp đồng do Trung tâm cung cấp và giải trình của Phó giám đốc phụ trách mảng dịch vụ thì đơn vị đã thực hiện ký kết hợp đồng dịch vụ trước khi triển khai thực hiện nhiệm vụ, báo cáo của bà Đặng Thị Ngọc Bích là không chính xác do chưa nắm được bản chất của sự việc…

Một trong những nội dung “tố cáo” được dư luận quan tâm và đã đăng phát trong thời gian qua, đó là ông Dương Văn Quynh, Giám đốc Trung tâm “ăn chặn” tiền trang phục của cán bộ, nhân viên. Chính xác là, năm 2013 chi tiền quần áo đồng phục cho viên chức 5.000.000 đồng/người nhưng chứng từ chi không hợp lệ (một người ký nhận cho nhiều người), một số người chưa nhận được. Để rộng đường dư luận, chúng tôi xin trích nguyên văn phần nội dung kết luận này của Tổ công tác:

Theo báo cáo của Trung tâm, năm 2013 Trung tâm gặp nhiều khó khăn, doanh thu 6 tháng đầu năm giảm 40% so với cùng kỳ năm trước, đồng thời chính sách thuế mới quy định lại giá tiền thuê đất thay đổi theo vị trí và diện tích, theo đó số tiền thuê đất Trung tâm phải nộp lên tới 2.012.326.000đ theo thông báo số 605/CCT-TBTK và 606/CCT-TBTK ngày 29.4.2013 của Chi cục Thuế quận Hai Bà Trưng (truy thu từ năm 2013 trở về trước là 859.030.000đ; phải nộp 2013 là 1.120.037.000đ; phạt nộp chậm là 33.259.000đ. Do vậy, Phòng Tài vụ đã báo cáo về khả năng không chi trả được một số khoản thu nhập tăng thêm cho công chức, viên chức và người lao động của Trung tâm (trong đó có khoản chi tiền trang phục). Theo yêu cầu của Đoàn kiểm tra liên ngành quận Hai Bà Trưng, ngày 12.12.2013, Trung tâm đã thực hiện việc tạm nộp tiền thuê đất với số tiền là: 859.030.000đ.

Ngày 6.12.2013, Trung tâm đã có Công văn số 201/TLVHNT gửi Chi cục Thuế quận Hai Bà Trưng để được điều chỉnh tờ khai trên cơ sở cung cấp các bản đồ đo đạc của Sở Quy hoạch kiến trúc TP Hà Nội để xác định lại vị trí đất, đồng thời làm giấy đề nghị giảm tiền thuê đất. Vì vậy, số tiền phải nộp giảm còn 1.101.949.000đ. Mặt khác, theo Nghị quyết số 02/NQ-CP tiền thuê đất được tính giảm thêm 50% nên số tiền Trung tâm đã tạm nộp là thừa và được khấu trừ vào những năm sau. Đồng thời doanh thu của những tháng cuối năm 2013 có chiều hướng tốt hơn nên Phòng Tài vụ đã tham mưu và được Giám đốc chấp thuận chi tiền trang phục năm 2013 với mức tối đa là 5 triệu đồng/người (vì khoản chi này được tính vào chi hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ).

Năm 2013, Trung tâm đã chi tiền quần áo cho 127 người (danh sách kèm theo phiếu chi số 20130403PC ngày 25.12.2013), tổng số tiền là 610.250.000đ. Năm 2013 là năm duy nhất từ trước đến nay, Trung tâm chi tiền trang phục một lần vào cuối năm.

Việc chi trang phục cho công chức, viên chức và người lao động đã được Trung tâm quy định tại Khoản 5 Điều 30 Quy chế chi tiêu nội bộ: Chi trang phục áp dụng thông tư 18/TT-BTC ngày 10.02.2011 của Bộ Tài chính, tối đa không quá 5 triệu đồng/người/năm (Quy chế chi tiêu nội bộ năm 2012 ban hành kèm theo Quyết định số 88/QĐ-TLVHNT ngày 4.7.2012 và Quy chế chi tiêu nội bộ năm 2015 ban hành kèm theo Quyết định số 33/QĐ-TLVHNT ngày 27.3.2015). Như vậy, mức chi 5.000.000đ/người/năm là phù hợp với các quy định (Điểm e, mục 1, Điều 1 Thông tư 18/2011/TT-BTC).

Trong cả hai Quy chế chi tiêu nội bộ năm 2012 và năm 2015 đều ghi nhận: “Phòng Tài vụ căn cứ vào tình hình thu chi thực tế, báo cáo trình giám đốc quyết định mức chi cụ thể cho từng năm”. Thực tế kiểm tra hồ sơ chứng từ tại đơn vị thì đơn vị chỉ có phiếu chi và chứng từ ký nhận kèm theo, không có văn bản hoặc biên bản thể hiện quyết định mức chi cụ thể cho từng năm.

Qua kiểm tra chứng từ chi trang phục từ năm 2013 đến năm 2016 cho thấy: Tại danh sách chi tiền, đơn vị đang cho một người ký nhận thay cho nhiều người mà không có ủy quyền của từng cá nhân.

Để xác minh nội dung báo cáo “Một số người không nhận được tiền trang phục năm 2013” và tránh phát sinh việc khiếu nại liên quan đến khoản tiền trang phục các năm 2014, 2015, 2016, Tổ công tác đã yêu cầu Phòng Tài vụ của Trung tâm chứng minh đã chi tiền quần áo năm 2013, 2014, 2015, 2016 bằng tiền mặt cho công chức, viên chức và người lao động tại Trung tâm 5.000.000đ/người. Phòng Tài vụ đã tổ chức lấy chữ ký của từng người theo danh sách chi tiền quần áo từ năm 2013 đến năm 2016. Theo báo cáo kết quả của Phòng Tài vụ: Năm 2013, trong tổng số 127 người được phát tiền có 07 người không ký xác nhận là đã nhận tiền; 25 người đã nghỉ hưu, nghỉ việc, chuyển công tác, đang đi học nên không lấy được chữ ký. Các năm 2014, 2015, 2016 về cơ bản là đầy đủ chữ ký (trừ những người đã nghỉ hưu, nghỉ việc, chuyển công tác, đang đi học).

Qua làm việc với những người không ký xác nhận và 03 người ký nhận tiền trang phục năm 2013 từ Phòng Tài vụ (người nhận tiền cho Phòng Bảo vệ; Phòng Tổ chức - Hành chính và Lãnh đạo Trung tâm; Phòng Hội chợ triển lãm) cho thấy:

- Những người ký nhận tiền từ Phòng Tài vụ đều xác nhận chữ ký trong chứng từ chi tiền quần áo năm 2013 đúng là chữ ký của mình. Trong đó, một người xác nhận đã nhận tiền mặt và đã phát cho mọi người trong Phòng (Phòng Hội chợ triển lãm); một người nói do thời gian quá lâu nên không nhớ nhưng khẳng định “nếu đã nhận tiền thì sẽ phát cho mọi người” (Phòng Tổ chức - Hành chính và ba người trong Ban Giám đốc gồm cả bà Bích); một người nói đã ký nhưng thủ quỹ nói “ký nhưng không được nhận tiền mà để chuyển khoản thành tiền tết”. Người này không cung cấp được chứng cứ để chứng minh việc mình chỉ ký mà không nhận tiền mặt. Qua kiểm tra chứng từ chi, đơn vị đã chi tiền Tết Nguyên đán 2014 cho công chức, viên chức và người lao động tại PC số 0060PC ngày 21.3.2014; năm 2013 và đầu năm 2014, đơn vị không có chứng từ nào chuyển khoản 5.000.000đ/người.

Những người không ký xác nhận đã nhận tiền (bảy nguời): bốn người khẳng định không nhận được tiền quần áo năm 2013 (trong đó có bà Bích); một người nói do thời gian lâu quá không nhớ rõ; hai người nói từ trước đến nay chưa bao giờ nhận được tiền quần áo là 5.000.000đ, có được nhận nhưng chỉ khoảng 1.000.000đ hoặc 1.500.000đ. Bảy người này đều khẳng định từ trước đến nay các phòng đều cử một người đại diện ký nhận một số loại tiền (quần áo, ăn trưa) cho cả phòng. Từ năm 2013 đến nay, bảy nguời này không có văn bản báo cáo, phản ánh với Giám đốc Trung tâm về việc mình chưa nhận được tiền quần áo năm 2013. Tại Kết luận số 80/KL-TTr ngày 5.9.2014 của Thanh tra Bộ đã kết luận về nội dung chi tiền trang phục năm 2013, từ thời điểm ban hành Kết luận đến thời điểm Bộ ban hành Quyết định thành lập Tổ công tác, ngoài bà Đặng Thị Ngọc Bích không có ai phản ánh về việc chưa nhận được tiền trang phục năm 2013.

Tổ công tác đã làm việc với những người ký trên Phiếu chi số 20130403PC ngày 25.12.2013 (Giám đốc, Kế toán trưởng, Thủ quỹ và người lập phiếu): Những người này đều xác nhận chữ ký của mình và khẳng định đã chi tiền quần áo năm 2013 bằng tiền mặt và cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về những nội dung đã khẳng định.

Kết luận: Phiếu chi số 20130403PC ngày 25.12.2013 chi tiền trang phục năm 2013 cho công chức, viên chức và người lao động tại Trung tâm là chứng từ hợp pháp nhưng chứng từ kèm theo phiếu chi là Danh sách chi tiền chưa đầy đủ chữ ký của người nhận tiền theo quy định của Luật Kế toán số 03/2003/QH 11 ban hành ngày 17.6.2003 (Điều 17 về nội dung chứng từ kế toán quy định chứng từ kế toán phải có: “Chữ ký, họ và tên của người lập, người duyệt và những người có liên quan đến chứng từ kế toán”; và Điều 20 về ký chứng từ kế toán quy định “Chứng từ kế toán phải có đủ chữ ký”).

Như vậy, nội dung bà Đặng Thị Ngọc Bích báo cáo về việc chứng từ chi tiền quần áo năm 2013 không hợp lệ là đúng một phần (chứng từ đi kèm phiếu chi số 20130403PC ngày 25.12.2013 một người ký nhận thay cho nhiều người). Tuy nhiên, Báo cáo kiểm toán Báo cáo tài chính năm 2013 ngày 6.2.2015 của Kiểm toán Nhà nước, nội dung chi trang phục được xác định nằm trong chi phí dịch vụ tại Trung tâm và Kiểm toán Nhà nước xác định các nội dung chi đảm bảo theo đúng quy định.

Về nội dung một số người không nhận được tiền trang phục năm 2013 không có cơ sở để kết luận. Những người đã ký nhận tiền từ Phòng Tài vụ phải chịu trách nhiệm về việc ký nhận tiền và chịu trách nhiệm chi trả cho những người mình ký thay.

Lâm Sơn

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại