Cánh rừng nguyên sinh mang tên Thu Bồn
08-06-2016 02:15


(Tổ Quốc)- Tháng 10/2014, Văn học Quê nhà có đăng bài: Nhà thơ Thu Bồn trong ký ức người cùng thời”. Với mong muốn có một hình thức khen thưởng xứng đáng hơn với một số nhà văn có đóng góp lớn trong công cuộc đấu tranh giải phóng và thống nhất đất nước, vừa qua, trong danh sách các tác giả được đề nghị tặng Giải thưởng Nhà nước và Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật có nhiều nhà văn từng mặc áo lính, đặc biệt có 3 nhà văn Quân đội được đề nghị xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh là Hu Mai, Xuân Thiều, và Thu Bồn.

Cánh rừng nguyên sinh mang tên Thu Bồn - ảnh 1
Nhà thơ Thu Bồn (ảnh TL)

Trong một hồi ức, Nhà thơ kể rằng, năm 1962, anh được Cục Chính trị BTL Trung Trung bộ cử ra trạm Cà Tu - ranh giới Lào và Kon Tum, đón nhà thơ Thanh Hải trên đường từ Huế vào Trung ương Cục truyền đạt lệnh, phải ra ngay Hà Nội nhận công tác đặc biệt. Nhân đó, nhà thơ gửi bản thảo viết tay duy nhất của Trường ca BÀI CA CHIM CHƠRAO, nhờ nhà thơ Thanh Hải mang ra Bắc. Mất hút mấy năm, mãi đầu 1965, khi được phái đến vùng ba biên giới, chuẩn bị thời cơ để đánh bọn Kỵ binh bay ở Pờ lây me, gặp một đoàn nhà báo từ miền Bắc vào Trung ương Cục, trong đó có nhà thơ Lê Anh Xuân, Hồng Tân, Từ Sơn. Đặc biệt nhà báo Đinh Phong, sau này là Phó Tổng Giám đốc Đài Truyền hình TP.HCM, có mang theo phụ trương tờ báo Văn nghệ từ 1964, in trọn vẹn bản Trường ca. “Tôi mang tờ báo Văn nghệ có bản trường ca, đi bộ suốt 15 ngày, vượt qua một cung đường nguy hiểm nhất để đến với cái làng Đêpapơlênh - cái làng đã đẻ ra bản Trường ca của tôi. Tôi tìm ông già Siu Ken, người từng thổi kèn Đinh năm cho tôi nghe và cô gái xinh đẹp Hơ Tó thường đốt lửa lồ ô và nứa suốt đêm cho tôi ngồi viết bản Trường ca.

Lũ làng ơi! Tôi kêu lên giữa nhà Rông hoang vắng, mốc meo, cái tờ giấy có mồm nói cho người cả nước cùng nghe bài ca của làng mình đây! Tôi hú lên. Bên kia vách rừng Pa Lơn Khơn vang vọng lại tiếng hú tôi. “Nhưng khi lũ làng kéo về, tờ báo có Trường ca được mở ra, mấy minh họa được chỉ trỏ bàn tán, Già làng muốn xé tờ báo cho mỗi người giữ một mảnh, thì B52 chụp xuống. “Thế là trong phút chốc, cả nhà Rông tan biến, tờ báo Văn nghệ có mang theo BÀI CA CHIM CHƠRAO của tôi cùng với ba lô đồ đạc và đau khổ hơn là máu. Máu của lũ làng đã đổ. Và những chiếc trực thăng như trồng ngược lên từ phía sau dãy núi bắn xối xả xuống làng buôn. Cuộc đụng độ của Sư đoàn Kỵ binh bay và quân chủ lực của Bộ đã bắt đầu. Lửa cháy rực cao nguyên. Sắt thép và máu tung tóe mười ngày đêm. Ông già Siu Ken và cháu Hơ Tó cùng một số dân làng bị thương. BÀI CA CHIM CHƠRAO cùng với trái tim tôi tan nát”. Nhà thơ suýt bị kỷ luật vì tự do.

Kỷ niệm đó chỉ là một trong muôn vàn những hoàn cảnh và tình huống thật độc đáo mà chỉ có ở Thu Bồn. Không một ai trong các nhà văn VN hiện đại có cuộc đời phong phú; giàu có những từng trải trong chiến trận cũng như trong đời sống như Thu Bồn.

Đọc lại mấy tập sách sau khi Ông mất, do bạn bè làm: THU BỒN - GÓI NHÂN TÌNH (950 trang, 2004) và THU BỒN - TRÁNG SĨ HỀ… DÂU BỂ (400 trang, 2013), có thể gặp nhiều nhân chứng sống cho các chặng đời hoạt động của Nhà thơ. Hàng trăm người, từ nhiều ngành nghề và cương vị xã hội khác nhau, gặp nhà thơ ở nhiều thời điểm khác nhau, “chúng khẩu đồng từ” tôn vinh Thu Bồn là nhà thơ- chiến sĩ- hiệp sĩ hàng đầu trong thế hệ các nhà thơ kháng chiến. Thiếu tướng Nguyễn Chí Trung, nguyên Trợ lý Tổng Bí thư kể: “Thu Bồn nhập ngũ tháng giêng năm 1947, lúc chưa đầy 12 tuổi, cùng Khu 5 với tôi. Cùng tập kết ra Bắc, rồi lại cùng về Nam. Chín đứa cùng về Mặt trận Khu 5 một đợt cuối năm 1961, bảy đứa hy sinh. Sau lại cùng về Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Rồi lại cùng đi chiến trường Căm pu chia. Tôi được phong Thiếu tướng, Thu Bồn vẫn Trung tá khi về hưu. Nhưng Thu Bồn không bận tâm chuyện đó, cứ mải mê sống, mải mê viết, và mải mê…yêu. ” Nhà văn Thanh Giang, lúc đó đã ghi sổ tang: “Nhớ lắm những ngày về học ở Phùng, rồi về nhà số 4 Lý Nam Đế dự bồi dưỡng viết văn, làm báo với các nhà văn Quân đội. Nhớ những ngày tập luyện ở Xuân Mai chờ lên đường vào chiến trường, hai đứa cùng đi bắn chim… Rồi đêm 22-12-1961, chúng ta cùng lên đường Trường Sơn. Thanh Giang vào thẳng Nam Bộ. Thu Bồn về Khu 5 cùng với các bạn Phan Đình Côn, Nguyễn Lưa… Tất cả các bạn đã hy sinh, chỉ còn Thu Bồn và Thanh Giang còn sống. Bây giờ Thu Bồn ra đi, Thanh Giang còn lại với bao niềm thương nhớ khôn nguôi. ”

Nguyên Chủ Tịch nước Võ Chí Công năm ấy đã 92 tuổi, là Thủ trưởng của nhà thơ qua mấy mùa kháng chiến, nghe tin Thu Bồn mất, đòi dẫn đi viếng bằng được. Nét bút run rẩy, Ông ghi hai dòng tâm huyết: “Thu Bồn sống để chiến đấu và làm thơ. Thơ Thu Bồn sống mãi với nhân dân và người chiến sĩ. ”

Một nhà văn cùng thời, đã viết: “Tôi được sống với Thu Bồn suốt thời chiến tranh chống Mỹ, anh vào chiến trường rất sớm, trước tôi gần một năm. Vậy đó, ngay cả việc đi vào cuộc chiến tranh của dân tộc, anh cũng rất vội, cứ như sợ không kịp! Ở chiến trường, Thu Bồn sống ào ạt, lao động ào ạt, viết ào ạt, yêu ào ạt… Ngay cả trong tình yêu nữa, anh như lúc nào cũng sợ như không kịp, không đủ. Anh chung thủy vô cùng, và cũng thay đổi vô cùng! Trong lao động - lao động giữa chiến tranh, và sau này trong hòa bình - anh nổi tiếng mạnh mẽ và tháo vát. Có lần, anh một mình dựng một căn nhà giữa rừng, mà là một căn nhà hai tầng hẳn hoi, cứ như một căn biệt thự giữa Hà Nội! Đi chiến đấu, Thu Bồn bao giờ cũng đòi có mặt ở mũi nhọn nhất…Và chính giữa những ngày tháng khó khăn gian khổ nhất ở chiến trường, anh viết BÀI CA CHIM CHƠRAO nổi tiếng. Xuân Mậu Thân 1968, ở sát ngay ngoại ô thành phố Đà Nẵng, trước đoàn quân hàng ngàn người sắp bước vào cuộc Tổng tấn công, anh đọc như thét vang: Đà Nẵng gọi ta như người mẹ gọi con/ Như người yêu gọi người yêu xa cách. ”. Cũng nhắc về bài thơ lịch sử này, Ông Phạm Đức Nam, nguyên Chủ tịch Tỉnh Quang Nam - Đà Nẵng, người từng biết nhà thơ từ thời kỳ chống Pháp qua chống Mỹ, từng khẳng định chắc nịch: “Thu Bồn ngày nay vẫn y như Thu Bồn ngày xưa đánh Mỹ. Thơ Thu Bồn mạnh hơn một binh đoàn. Đó là bài thơ Đà nẵng gọi ta, Thu Bồn viết trước cuộc xung trận vào Đà Nẵng Mậu Thân 1968!. . . Chính ở những bước ngoặt đó, anh là người đi tiên phong mở đường và bao giờ cũng để lại những tác phẩm ghi dấu mốc lịch sử đó một cách chói sáng”.

Nhà chính trị kỳ cựu này không chỉ hiểu Thu Bồn trong cuộc sống và chiến đấu, mà còn theo rất sát các sáng tác của nhà thơ. Dù đã có thơ in trên các báo từ năm 1957, nhưng từ sau khi BÀI CA CHIM CHƠRAO xuất hiện năm 1962, được phổ biến rộng rãi năm 1964, cái tên Thu Bồn mới thực sự được bạn đọc biết đến. Lần theo lý lịch từng tác phẩm, từ những bài thơ (đã in 6 tập thơ), truyện ngắn (Dưới tro), từng trường ca (10 trường ca), tiểu thuyết (10 tập), và các bài viết có phần tự truyện, chúng ta thấy hiện lên một nhà văn với tầm vóc cao lớn, một sức làm việc đáng nể, một tài năng nhiều mặt, và quan trọng là một cảm hứng sáng tạo thường trực và mãnh liệt. Người ta thường ví những nhà văn lớn là những cây đại thụ. Nhưng hình như điều đó không đúng trong trường hợp Thu Bồn. Có lẻ sẽ đúng hơn, nếu coi Thu Bồn là một cánh rừng nguyên sinh. Không phải cây cỏ nào cũng quý, nhưng có nhiều những cây con quý hiếm mà không nơi nào, không tác giả nào có được. Thế giới thơ của Thu Bồn là một ví dụ. Thơ chiến đấu, và đặc biệt các Trường ca hoành tráng, hào sảng, bi hùng, dữ dội (Bài ca chim Chơrao, Quê hương mặt trời vàng, Ba dan khát, Campuchia hy vọng, Oran 76 ngọn, Người vắt sữa bầu trời, Chim vàng chốt lửa, Tiếng hú người Di ô loa, Hà Nội ngày nào…). Thơ về quê hương đất nước nồng nàn, thiết tha (Tre xanh, Mặt đất không quên, Tôi nhớ mưa nguồn…). Thơ thế sự sâu, đằm mà không bi quan. Thơ tình mặn nồng, hào hoa, thiết tha, say đắm (Một trăm bài thơ tình nhờ em đặt tên). Nhưng là nói vậy thôi. Trong từng bài, từng tứ thơ, hình như tất cả quyện làm một. Từ một chi tiết nhỏ, năm 1962, đi an táng cho một người du kích, đêm về anh viết bài thơ Em đắp mồ anh. Nhưng ngay khi báo cáo chỉ huy, anh bị buộc phải quay lại xóa nấm mộ vừa đắp, đề phòng kẻ địch phát hiện sẽ khai quật để kéo xác đi bêu riếu, nên câu thơ phải sửa lại: Khuya rồi em xóa (thay vì đắp) mộ anh/ Ngang trời một ánh sao xanh dẫn đường. Bài thơ Mẹ viết khi bà mẹ mà anh một đời xa cách vừa gặp lại mất: Quê hương bỗng trở thành khoảng trống lặng im/ Đường không hoa không gió không chim/ … Mẹ không còn nữa ở trên đời/ … Chẳng còn ai mỏi mắt đợi con về/ Con lớn khôn từ phía sông Hồng/ Nghe gió bấc nhớ manh mền manh chiếu/ Gió trở lạnh biết đời con sẽ thiếu/ Một tấm lòng che chở đến bao dung/ …Và thơ thế sự trong Hành phương Nam có cái hào khí của những tráng sĩ xưa nhưng vẫn giàu tính hiện thực: Xưa kia tráng sĩ hề da ngựa/ Ta nay uống cạn mấy rừng mưa/ Độc huyền tráng sĩ xưa ca cẩm/ Ta ôm xích đạo gẩy vòng cung/ Môi hôn ngọn gió thơm hoa trái/ Núi cũng chiều ta đứng trập trùng/ … Bơi qua biển lửa ta về lại/ Gọi Thái Bình Dương đến dạo đàn…/ Bao năm gối núi đầu hóa đá/ Tiếng hát từng rung Ngũ Giác đài/ Bao phen xa xứ người thương nhớ/ Trăng sáng mà em áo vẫn cài. Và hai khổ thơ gợi nhớ những ngày tháng vô cùng gian khổ của bộ đội chiến đấu ở chiến trường Campuchia: Có đêm tung súng lên trời hát/ Hỏa pháo soi từng cổ họng khô/ Em có đem về thêm giọt nước/ Rưới cho bạn khát dưới nấm mồ/ Ta nằm nghe gió qua rừng Thái/ Nghe cả tiếng tru lũ sói rừng/ Con trăng cứ sáng rồi cứ khuyết/ Ta uống vầng trăng đến cạp vành. Trời còn cho Thu Bồn một giọng đọc thơ đầy sức cuốn hút. Ngay cả trên những diễn đàn thơ quốc tế, một khi Thu Bồn đã xuất hiện, dẫu chỉ mấy câu ứng tác vội vàng, vẫn nhận được sự cổ vũ nồng nhiệt của các nhà thơ lớn quốc tế.

Nói theo ngôn ngữ hiện đại, trong sáng tạo thơ, Thu Bồn là người luôn có xu hướng ra khỏi vùng an toàn được quy ước bởi những lý thuyết cổ điển. Nhưng những sáng tác đó được bảo chứng bằng một tri nghiệm thực sự nghiêm túc, là người lặn sâu, lặn kỹ và lâu dài vào thực tiễn chiến đấu của dân tộc. Điều đó càng thấy rõ trong hàng loạt tiểu thuyết đã in.

Cùng với Tuyển tập Trường ca, tiểu thuyết hai tập Dưới đám mây màu cánh vạc viết về nữ Anh hùng Trần Thị Tâm được nhận Giải thưởng Nhà nước năm 2001, là một hướng mở mới cho loại sách về người thật việc thật, đặc biệt là loại truyện anh hùng. Bút pháp giàu chất thơ khi diễn tả một thực tế chiến đấu quyết liệt, ngoài mọi sức chịu đựng, có sức thuyết phục lớn. Nhưng Thu Bồn còn có các tiểu thuyết: Chớp trắng (1970), Hòn đảo chân ren (1972), Dòng sông tuổi thơ (1973), Đỉnh núi (1980), Mắt bồ câu và rừng phi tiễn (1986), Vùng pháo sáng (1986), Cửa ngõ miền Tây (1986), Em bé vào hang cọp (2 tập, 1986).

Tác phẩm đề nghị xét Giải thưởng Hồ Chí Minh lần này gồm Tuyển thơ Thu Bồn (In lại các tập Tre xanh (1969), Mặt đất không quên (1970), Tôi nhớ mưa nguồn (1999), 100 bài thơ tình nhờ em đặt tên (1992), có hai tiểu thuyết Chớp trắngVùng pháo sáng (Vốn có tên Vùng sáng hỏa châu) và tập truyện ngắn đặc sắc Dưới tro. Hai tiểu thuyết viết về hai thời kỳ chiến tranh đặc biệt, cho đến nay hầu như chưa có nhà văn nào quan tâm.

Chớp trắng là ánh lửa của bộ đội đặc công đánh tàu Mỹ ngay ở Cảng Đà Nẵng. Nhưng để có chiến công đánh trực diện vào sào huyệt quan trọng, được canh gác cẩn mật của quân Mỹ, từ nhiều năm trước, ta đã chuẩn bị tổ chức lực lượng ở vùng rừng núi miền Tây Quảng Nam, nơi sinh sống của đồng bào nhiều dân tộc. Thế lực của địch mạnh, lại giàu về vật chất để rún ép, mua chuộc đồng bào, với nhiều thủ đoạn thâm hiểm và tàn bạo. Lực lượng ta còn mỏng, cơ sở vật chất nghèo thiếu. Chỉ có dựa vào lòng yêu nước, những cán bộ và bộ đội nhiều năm bám trụ, giữ ngọn lửa âm ỉ, để khi có điều kiện và thời cơ thì đốt cháy bùng lên để tiêu diệt kẻ thù. Tiểu thuyết được viết từ năm 1968, khi Mỹ còn trực tiếp tham gia chiến đấu, với binh hỏa lực hùng mạnh. Nhưng với mưu trí, gan dạ, bộ đội ta vẫn tổ chức các trận chiến đấu, và giành những chiến thắng vang dội. Các nhân vật hai phía có số phận, có cá tính khá đc sắc. Những nhân vật dao động giữa hai chiến tuyến cũng làm nên một nét tìm tòi thú vị của tiểu thuyết.

Mùa hè 1972, Thu Bồn cùng đoàn nhà văn quân đội có mặt tham gia chiến dịch giải phóng Quảng Trị. Dạo đó, ta đy địch về phía nam sông Mỹ Chánh, ranh giới giữa hai tỉnh Qung Trị - Thừa Thiên. Thấy rõ nguy cơ thất thủ Huế, đối phương dùng toàn bộ hải lục không quân mở cuộc phản kích quyết liệt. Ta phải về cắm cờ ở phía bắc sông Thạch Hãn. Để bảo vệ nhân dân khỏi vùng lửa đạn, nơi hai bên đang tranh chấp quyết liệt, ta tổ chức đưa mấy vạn đồng bào các huyện Hải Lăng, Triệu Phong, Do Linh tản cư ra Vĩnh Linh, phía bắc Vĩ tuyến 17. Để giành dân, kẻ địch tạo ra một vành đai hỏa lực trên không, pháo binh mặt đất, và cả bom mìn, dồn dân chạy vào Nam. Có mặt trong những ngày đó, Thu Bồn đã trực tiếp chứng kiến hoàn cảnh chiến tranh kỳ lạ, những nỗi thống khổ khốn cùng mà người dân phải chịu trong những ngày nghiệt ngã. Người ta nói chiến tranh không có gương mặt phụ nữ. Nhưng trong cuộc di dân này, lại toàn phụ nữ, người già, và cả trẻ em, có em sinh trên đường chạy loạn. Trên nền ấy, ngày và đêm, mà chủ yếu là ban đêm, hàng vạn người mang theo đồ tế nhuyễn, của riêng tây, theo đội hình, nhằm hướng Bắc mà đi. Đó là cuộc di dân vĩ đại của những người dân thường ra khỏi vùng đạn bom, mà ở đâu cũng gặp đạn bom. Đó là bối cảnh của Vùng pháo sáng. Số phận đầy bi kịch của người dân ở một làng quê phía Nam, sau 10 năm bị chia cắt, bị giằng xé giữa hai phía, là sự quan tâm đặc biệt của tiểu thuyết. Ngôn ngữ địa phương Quảng Trị sinh động, nhiều tính cách và số phận được khắc họa rõ nét bởi những tiểu sử đặc biệt. Những số phận bi kịch nhiều biên độ, đặc biệt những phụ nữ có chồng đang công tác ở bờ Bắc, bị đối phương dùng mọi cách ly gián, làm nhục tạo nên nét riêng của tiểu thuyết. Hình ảnh nhân vật đẹp nhất trong hai tiểu thuyết này là những người lính, mặc cho những bi kịch gia đình, vẫn luôn vượt lên mọi thử thách, để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ.

Phải chăng đó cũng là thể nghiệm của chính cuộc đời của nhà thơ? Có hai con trai với người vợ đầu ở chiến trường, cả hai đều bị nhiễm chất độc da cam. Thảo Nguyên mất năm 16 tuổi, vì bệnh máu trắng. Băng Ngàn bị tâm thần phân liệt, không có khả năng làm việc, hiện sống với m. Anh còn sống với mấy người nữa, nhưng không dám có con. Ám ảnh di họa chiến tranh là nỗi đau không dễ nói thành lời. Nhưng cánh rừng nguyên sinh những tác phẩm được sinh thành bởi tài năng, tâm huyết của Thu Bồn chắc chắn sẽ còn sống mãi và nói với người tương lai những gì quý báu và tốt đẹp về thời của chúng ta.

Nhà văn Ngô Thảo

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại