Cây bút chiến trường và kho sử liệu chiến tranh
21-05-2015 11:09

 

Nói về nhà văn Phan Tứ là người ta nghĩ ngay đến một trong những cây bút hàng đầu của văn chương Việt viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta cách đây hơn 40 năm. Nhưng hơn thế, Phan Tứ còn là người lưu giữ một kho sử liệu quí và đồ sộ về cuộc chiến tranh ấy với những trang ghi chép và nhật ký cá nhân. Có người cho rằng, nếu thần chết không sớm cướp đi sinh mạng của ông, thì biết đâu văn đàn Việt Nam cũng sẽ có “một Tolstoi” cho riêng mình.

Cây bút chiến trường và kho sử liệu chiến tranh - ảnh 1
Vợ chồng nhà văn Phan Tứ (ảnh tác giả cung cấp)

 

Cuộc đời và sự nghiệp văn chương

Nhà văn Phan Tứ tên thật là Lê Khâm, sinh ngày 20/12/1930, tại thành phố Quy Nhơn, Bình Định. Ông là con thứ tư trong một gia đình có tới bảy người con, nhưng chỉ có ông là con trai, còn lại là sáu chị em gái. Thân phụ của nhà văn Phan Tứ là cụ Lê Ẩm (1897-1976), đã từng làm Đốc học ở Trường Quốc học Huế và là thầy dạy của các nhà thơ, nhà văn nổi tiếng như: Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Xuân Sanh, Hà Huy Giáp... Còn thân mẫu ông là bà Phan Thị Châu Liên (tục gọi là cô Đậu), con gái đầu của nhà chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh.

Sinh ở Bình Định, nhưng tuổi thiếu thời, Phan Tứ lại chủ yếu sống ở quê cha tại xã Quế Phong, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Vốn sinh ra trong gia đình có truyền thống quan lại và trí thức, từ nhỏ cậu bé Lê Khâm học giỏi về hai môn văn và tiếng Pháp. Tuy nhiên, chỉ mới 15 tuổi, Lê Khâm đã tham gia các hoạt động xã hội như: làm liên lạc, chuyển báo chí tài liệu bí mật cho Việt Minh huyện Quế Sơn (Quảng Nam) và tham gia cướp chính quyền ở địa phương trong Cách mạng tháng Tám.

Năm 1950, chàng thanh niên Lê Khâm xin nhập ngũ và theo học Trường lục quân Trần Quốc Tuấn tại phân hiệu Trung Bộ đóng ở vùng Cồn Kênh, xã Đại Bái, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi tốt nghiệp, cuối năm 1951, ông được phân công theo đội quân tình nguyện Việt Nam sang chiến đấu ở chiến trường Hạ Lào. Đến năm 1954, Phan Tứ tập kết ra Bắc. Năm 1958 ông vào học khoa Ngữ văn (khóa III), Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, nay là Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân Văn, thuộc Đại học Quốc gia, Hà Nội.

Nhà văn Phan Tứ từng là Đại biểu Quốc hội khóa VIII và đã được Nhà nước trao tặng các phần thưởng cao quí như: Huân chương Độc lập hạng Ba; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, hạng Nhì và hạng Ba; Huân chương Chiến thắng hạng Nhất.

Ông ra đi ngày 17/4/1995 tại thành phố Đà Nẵng, khi sự nghiệp văn chương của ông còn dang dở với bộ tiểu thuyết “Người cùng quê”.

*

Sự nghiệp văn chương của nhà văn Phan Tứ đã để lại cho đời một khối lượng tác phẩm tương đối đồ sộ và có giá trị như: Bên kia biên giới (tiểu thuyết, 1958, tái bản 1978); Trước giờ nổ súng (tiểu thuyết, 1960); Trên đất Lào (bút ký, 1961); Về làng (1964); Gia đình má Bảy (tiểu thuyết, 1968); Mẫn và tôi (tiểu thuyết, 1972); Người cùng quê (tiểu thuyết 3 tập, 1985, 1995, 1997, chưa hoàn thành); Nhật ký chiến trường (di cảo, viết bằng 4 thứ tiếng Việt, Lào, Pháp, Nga)...

Năm 1961, sau khi tốt nghiệp Đại học, Phan Tứ được phân công trở lại công tác tại chiến trường miền Nam, làm phái viên tuyên truyền khu ủy Liên khu V, ủy viên đảng đoàn Văn nghệ khu V. Từ đây các tác phẩm của ông đều lấy bút danh là Phan Tứ. Bút danh này trở nên nổi tiếng và gắn liền với các tác phẩm của ông về sau này. Do sức khỏe yếu vì chịu ảnh hưởng của chất độc hóa học, năm 1966 ông được rút ra Bắc để chữa bệnh và công tác tại Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, sau đó giữ quyền Tổng biên tập Nhà xuất bản Giải phóng. Năm 1970, Phan Tứ được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam.

Sau năm 1975, ông về sống và làm việc tại quê hương Quảng Nam. Ông từng là Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng; Ủy viên Ban Thư ký Ban chấp hành Hội Nhà văn khóa III.

Với sự đóng góp to lớn trong lĩnh vực văn chương, nhà văn Phan Tứ đã nhận được các giải thưởng: Giải thưởng văn học Nguyễn Đình Chiểu; Giải thưởng 30 năm (1945- 1975) của tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng; Giải thưởng văn học loại A mười năm (1985- 1995) của tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng; Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học- Nghệ thuật đợt II, năm 2000.

Nhà văn Phan Tứ được đánh giá là một trong những cây bút xuất sắc viết về đề tài chiến tranh cách mạng. Ông đã gắn bó mật thiết, sống và hy sinh cho cách mạng, cho đất nước và viết nên hàng ngàn trang sách, góp phần xứng đáng vào thành tựu chung của nền văn học cách mạng nước nhà. Ngay khi còn là sinh viên, Phan Tứ đã viết cuốn “Bên kia biên giới”. Sau đấy 2 năm (1960), ông lại cho ra đời cuốn “Trước giờ nổ súng”, ký tên Lê Khâm, cùng viết về cuộc chiến đấu của quân tình nguyện Việt Nam tại Hạ Lào. Hai tác phẩm của ông được đánh giá cao lúc bấy giờ và ông đã tự ghi tên mình vào danh sách các nhà văn hàng đầu khi tuổi đời vừa tròn 30.

Nhà văn Phan Tứ đã có thời gian khá dài sống cùng với đồng bào các dân tộc của tỉnh Quảng Nam giữa bao hiểm nguy và gian khổ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta. Ông luôn cảm thấy tự hào vì đã trực tiếp góp phần vào giải phóng quê hương. Với đôi quang gánh, một bên là tài liệu và bản thảo, một bên là quần áo, gạo, muối, ông đến nhiều nơi của vùng rừng núi Quảng Nam. Ông thấu hiểu cuộc sống, chiến đấu của đồng bào, chiến sĩ ta lúc bấy giờ là vô cùng khó khăn, gian khổ, nhưng rất đỗi hào hùng. Ông đã viết trong nhật ký của mình: “Những tính toán riêng tư cháy vèo đi bên những gương anh hùng chói lọi” và ông tâm niệm: “Phải tắm mình trong cuộc sống”, để vừa được cùng mọi người chiến đấu, vừa rèn giũa chắt chiu mỗi ngày đặng tìm ra những nét đặc biệt cho mỗi trang viết của mình. Vừa phải đảm đương công việc của cơ quan, đơn vị giao, ông vừa tranh thủ ghi chép lại những điều mắt thấy tai nghe từ cuộc sống chiến đấu của quân và dân ta qua các bài báo và những trang văn.

Tập truyện ngắn “Về làng” đã được hình thành từ những trải nghiệm cuộc sống lao động và chiến đấu nơi chiến trường khu V khói lửa ác liệt như vậy. Hình ảnh người nông dân, ở những hoàn cảnh khác nhau, trải qua quá trình đấu tranh cam go với bản thân, họ đã giác ngộ, đã đứng trong hàng ngũ cách mạng. Bằng các trang viết của mình, nhà văn Phan Tứ cho thấy quá trình chuyển biến khó khăn mà tất yếu của quần chúng, đặc biệt là quần chúng trung gian đến với cách mạng. Với “Về làng”, ông đã đánh dấu một bước tiến mới trong quá trình sáng tạo của Phan Tứ với bút pháp hiện thực nghiêm ngặt. Càng quí biết chừng nào khi văn học cách mạng miền Nam khi ấy hãy còn ít ỏi, thì “Về làng” đã góp phần giải được cơn khát văn chương từ chiến trường máu lửa lúc bấy giờ.

Gia đình má Bảy” (1968) là cuốn sách phản ánh sinh động và toàn diện bước chuyển vĩ đại của cách mạng miền Nam từ thế phòng ngự chuyển sang thế tiến công ở một xã ở Khu V bất khuất kiên cường. Ở tiểu thuyết này ông hướng ngòi bút của mình vào khối quần chúng cách mạng đã được giác ngộ. Với “Gia đình má Bảy”, Phan Tứ đã làm sáng tỏ chân lý “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”.

Nhưng có lẽ phải đến tiểu thuyết “Mẫn và tôi” (in 1972), Phan Tứ mới thật sự tạo được tiếng vang lớn và có sức hấp dẫn với nhiều độc giả trong nước. Chẳng thế mà nhà thơ Tố Hữu đã gọi đó là “quyển sách gối đầu giường của thanh niên miền Bắc” lúc bấy giờ. Hai nhân vật chính của tiểu thuyết là Mẫn và Thiêm (tôi), những người đại diện cho lớp cán bộ trẻ, vừa dũng cảm, kiên cường, vừa thông minh, sáng tạo trong chiến đấu giữa dòng thác cách mạng của quần chúng nhân dân. Ông đã tái hiện thành công cuộc chiến đấu của quân và dân ta ở một vùng vành đai ác liệt sát căn cứ Chu Lai của Mỹ trong thời kỳ chuyển tiếp về chiến lược của kẻ thù từ cuộc chiến tranh Đặc biệt sang cuộc chiến tranh Cục bộ. Thành công lớn của tiểu thuyết cho ta thấy bước tiến vượt bậc của Phan Tứ trên nhiều lĩnh vực từ quy mô hiện thực được phản ánh, tầm khái quát tư tưởng, nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật tiểu thuyết... Nhiều người cho rằng “Mẫn và tôi” và “Trước giờ nổ súng” là hai đỉnh cao trong sự nghiệp cầm bút của nhà văn Lê Khâm- Phan Tứ.

Đầu năm 1974, nhà văn Phan Tứ trở lại chiến trường với tham vọng lấy tư liệu để hoàn thành bộ tiểu thuyết nhiều tập có tên “Người cùng quê”. Ông vừa đi theo các đơn vị bộ đội, dân chính vừa kết hợp viết báo kịp thời phục vụ cho các chiến dịch Tiên Phước- Tam Kỳ, Đà Nẵng và chiến dịch Hồ Chí Minh, vừa tích lũy tài liệu những mong viết cho xong một bộ sách để “đền ơn đáp nghĩa” với đồng bào, đồng chí, với quê hương đã nuôi dưỡng mình.

Nhà văn Phan Tứ thường nói với đồng nghiệp: “Người ta đang nô nức viết theo phong cách này, phong cách nọ, tôi chỉ theo hiện thực nghiêm ngặt”. Hiện thực bao giờ cũng có cái xấu, cái tốt, cái cao cả và cái đớn hèn nên trách nhiệm của nhà nhà văn là phải phản ánh cho bằng được cái hiện thực sống động ấy, không được phiến diện một chiều, không né tránh những mất mát, tổn thất, những giằng co quyết liệt, những kẻ hèn nhát, đầu hàng.

Nếu như nhiều nhà văn đã chọn hình ảnh người anh hùng trong đời thực để đưa vào tác phẩm của mình, chẳng hạn như Nguyên Ngọc với anh hùng Núp trong “Đất nước đứng lên”, Nguyễn Thi với chị Út Tịch trong “Người mẹ cầm súng”, để xây dựng nhân vật tích cực, thì Phan Tứ lại thường chọn những con người bình thường trong quần chúng cách mạng từ cuộc sống chiến đấu mà trưởng thành rồi trở thành anh hùng. Đấy chính là điều khác biệt của ông.

Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đã đánh giá cao nhà văn Phan Tứ khi ông viết trong điếu văn đọc tại lễ truy điệu nhà văn ở Đà Nẵng: “Phan Tứ là một trong những cây bút xuất sắc về đề tài chiến tranh cách mạng, đặc biệt xuất sắc trong việc thể hiện mối tính gắn bó keo sơn trong mọi hoàn cảnh của hai dân tộc Việt - Lào”.

Cây bút chiến trường và kho sử liệu chiến tranh - ảnh 2
Từ chiến trường Khu 5- Nhật ký và ghi chép văn học của nhà văn Phan Tứ

 

Kho sử liệu quí về chiến tranh

Sinh thời, nhà văn Phan Tứ được các đồng nghiệp trong làng văn chương cho là người có cách bảo mật tài liệu như một nhà... tình báo. Do nhu cầu của cuộc sống những năm gần đây, mảng văn chương tư liệu ngày càng được độc giả quan tâm. Hàng loạt các trang nhật ký chiến trường của các nhà văn quá cố đã lần lượt được biên soạn và công bố rộng rãi như: Nhật ký chiến trường của Chu Cẩm Phong, Nguyễn Thi, Dương Thị Xuân Quý, Phan Tứ, Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc... Nhưng dư luận cho rằng bộ Nhật ký chiến trường của Phan Tứ là có qui mô đồ sộ và độc đáo nhất.

Theo hai bà Lê Thị Kinh và bà Đinh Thị Phương Thảo là chị gái và vợ của nhà văn Phan Tứ cho biết, ông đã để lại tất cả 50 cuốn bản thảo nhật ký, ước khoảng 7.000 trang viết tay, đến nay hiện gia đình vẫn lưu giữ. Cũng cần nói thêm rằng bộ Nhật ký chiến tranh của ông có tài liệu ghi là gần 5.000 trang vở viết của học sinh. Thời gian viết nhật ký của ông cũng rất khác nhau. Có tài liệu ghi là từ năm 1961, sau khi học xong đại học rồi vào chiến trường, cho đến 30/4/1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Cũng có tài liệu ghi ông viết Nhật ký từ năm 1962 đến 1966.

Tuy nhiên, điều ấy không quá quan trọng bằng việc ông là người có cách bảo mật tài liệu rất riêng, không lẫn với bất kì ai, thậm chí ông còn ghi rất rõ ở ngoài mỗi cuốn sổ tay: “Mật- ghi chép riêng của Phan Bốn (hay Phan Tứ) không ai được xem”. Tài liệu của ông được ghi bằng 5 thứ tiếng: Việt, Anh, Lào, Nga và tiếng Pháp. Có lẽ ông là một trong số ít các nhà văn cùng thế hệ và cả sau này nữa biết nhiều ngoại ngữ đến như vậy. Đấy chính là một lợi thế so sánh của ông so với các nhà văn khác chí ít về khả năng bảo mật tư liệu, bên cạnh việc đọc tài liệu bằng tiếng nước ngoài.

Trước đây dư luận rất băn khoăn, tại sao khi còn sống, một phần nhật ký của nhà văn Phan Tứ đã được xuất bản vào các năm 1983, 1984, nhưng sau khi ông qua đời, hàng chục năm sau, phần còn lại vẫn nằm trong kho bảo mật của gia đình. Về điều này bà Kinh cho rằng đến gần đây mới công bố những trang nhật ký này kể cũng hơi muộn. Thế nhưng có một sự thật là nhật ký của ông không chỉ được viết bằng một, mà bằng nhiều thứ tiếng như đã nói ở trên, nên việc xử lý chúng không phải là chuyện dễ dàng đối với gia đình. Việc đầu tiên là phải tìm được bốn chuyên gia ngôn ngữ giỏi các thứ tiếng Nga, Anh, Pháp, Lào, đồng thời phải am hiểu văn chương chiến tranh thời chống Mỹ mới có thể xử lý được khối tài liệu vô cùng đồ sộ ấy. Nhưng điều này gần như là bất khả thi. Vậy nên phải tìm người giỏi tiếng dịch nghĩa, xử lý tư liệu thô, sau đó mới đi tìm những người có vốn sống chiến trường, am hiểu văn chương giai đoạn ấy để dịch văn và giải mã những ký hiệu, từ ngữ viết tắt của nhà văn Phan Tứ. Cuối cùng là phải nhờ người thẩm định ngôn ngữ khi chuyển dịch và thẩm định về văn bản tác phẩm văn chương, xem tài liệu nào có thể được công bố ngay, tài liệu nào nên để lại vì những lí do khác nhau.

Tuy nhiên, việc biên dịch lại những ghi chép từ các thứ tiếng Lào, Pháp và Nga kéo dài suốt 5 năm ròng từ 2005 đến 2010, đòi hỏi rất nhiều tâm sức và thời gian, làm đi làm lại nhiều lần ngõ hầu đem lại những trang sách khả dĩ nhất có thể, tiệm cận với sự thật mà cố nhà văn đã ghi chép và để lại. Cuối cùng, nhà văn Thanh Quế, nguyên Chủ tịch Hội Nhà văn Đà Nẵng, người từng hoạt động nhiều năm ở chiến trường, có vốn sống và kiến văn hiệu chỉnh lại lần cuối, để có được bộ 3 tập sách dày 2.500 trang, khổ 14,5 cm x 20,5 cm.

Bộ sách là một công trình văn chương tư liệu đồ sộ, phản ánh tương đối đầy đủ và sống động những trải nghiệm của nhà văn Phan Tứ về cuộc chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta ở một vùng khốc liệt nhất. Nó không chỉ mang tính lịch sử, mà còn đậm chất văn hóa, văn chương, theo hướng sử thi, để bạn đọc hôm nay có thể hình dung được phần nào tương đối rõ nét về cuộc sống chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trên một địa bàn rộng lớn từ miền đất máu lửa Quảng Nam, căn cứ khu V đến con đường và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử trong cuộc kháng chiến vĩ đại nhất của dân tộc ta.

Xem ra, với một nhà văn có cách bảo mật tài liệu cá nhân khá đặc biệt như Phan Tứ, thì sự tiếp cận các trang nhật ký của ông tuy có thú vị, nhưng nhiều khi trở thành một gánh nặng không thể đừng được với không ít người.

Nhưng theo quan điểm của chúng tôi, nhà văn Phan Tứ là người có ý thức rất rõ về những công việc mình làm và có tham vọng lớn về văn chương. Ông có phong cách làm việc thật sự nghiêm túc và khoa học. Do vậy khả năng trở thành một nhà văn lớn của văn chương Việt là điều hoàn toàn có thể hiểu được. Nếu cuộc chiến tranh không lấy đi nhiều sức khỏe, để lại những cắn bệnh tai quái, hiểm độc, chắc chắn nhà văn Phan Tứ còn có thể tiến xa hơn nữa trong sự nghiệp văn chương của mình.

Riêng khối lượng đồ sộ về những trang Nhật ký chiến tranh, ông hoàn toàn xứng đáng là nhà văn hàng đầu trong mảng văn chương tư liệu, một thể loại mới mẻ đang tạo nên sức hút lớn đối với công chúng trên khắp toàn thế giới. Minh chứng là Giải Nobel văn học 2014 đã thuộc về nhà văn Pháp Patrick Modiano với hàng loạt tác phẩm văn chương hồi ức, nhật ký như: Quảng trường ngôi sao, Những đại lộ ngoại vi, Ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối, Phố những cửa hiệu u tối… Riêng hai cuốn Những đại lộ ngoại vi (1989) và Phố những cửa hiệu u tối (1992) đã được dịch giả Dương Tường dịch sang tiếng Việt cách đây hai ba chục năm về trước.

Đại diện Hội đồng Giải Nobel văn học Thụy Điển, ông Peter Englund cho rằng “với nghệ thuật hồi tưởng, Patrick Modiano đã tái hiện những số phận bấp bênh nhất và khám phá thế giới- cuộc sống dưới sự chiếm đóng của ngoại bang... nghệ thuật ký ức đã giúp mô tả những phận người khó nhận thức nhất và phơi bày cuộc sống trong thời Đức quốc xã chiếm đóng”.

Giá trị của những trang Nhật ký chiến tranh của nhà văn Phan Tứ chính là ở chỗ này đây./.

Đỗ Ngọc Yên

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại