Nhà văn tuổi Thân và tác phẩm
10-02-2016 02:52


(Toquoc)- Một mùa xuân mới đã về trên khắp đất nước Việt Nam. Năm mới Bính Thân, con giáp đại diện là Thân- Khỉ. Trong 12 con giáp thì người mang tuổi Thân là những người thông minh, tháo vát, nhanh nhẹn. Họ là người có khả năng hợp với nhiều công việc nhưng có một công việc mà nếu theo đuổi thì họ cũng sẽ có được những thành công đáng kể, đó là nghề viết. Có lẽ vì thế mà trong số các nhà văn tuổi Thân, chỉ thống kê riêng những nhà văn có tên trong danh sách hội viên nhà văn Việt Nam, thì số lượng các nhà văn đã lên đến gần 50 người và họ đã để lại dấu ấn đáng kể cho nền văn học Việt Nam.

Điểm qua danh sách các nhà văn tuổi Thân có thể kể đến các nhà văn, nhà thơ gạo cội như Lương An, Hải Triều, Cầm Biêu, Tô Hoài, Nguyễn Xuân Sanh, Chế Lan Viên, Xuân Sách, Phùng Quán, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Bao… gần hơn là Đỗ Chu, Mai Vũ, Kiều Vượng, Trần Nhuận Minh, Phạm Ngà, Trần Lê Văn, Vương Anh, Nguyễn Phan Hách, Lê Văn Ngăn, Trần Hòa Bình, Nguyễn Hữu Quý, Phạm Sỹ Sáu, Phạm Ngọc Tiến, Văn Công Hùng, Phạm Xuân Nguyên, Phan Thị Vàng Anh, Phạm Khải, Lê Huy Quang…

Nhà văn tuổi Thân và tác phẩm  - ảnh 1
Các nhà văn tuổi Thân

Nhà thơ- dịch giả Nguyễn Xuân Sanh: Sinh năm 1920 (Canh Thân). Làm thơ từ khi còn nhỏ, đến năm 16 tuổi bắt đầu được nhiều người biết đến qua bài thơ Lạc loài được nhiều báo đăng. Trong sự nghiệp văn chương của mình, gia tài của nhà thơ có khá nhiều tác phẩm nổi tiếng, trong đó gồm có thơ, thơ dịch và các sáng tác cho thiếu nhi. Có thể kể đến các tác phẩm sau: Về thơ có các tập: Nhận ruộng (1945), Chiếc bong bóng hồng (1957), Tiếng hát quê ta (1955), Nghe bước xuân về (1961), Quê biển (1966), Sáng thơ (1971), Đảo dưa hấu (1974), Đất nước và lời ca (1978), Đất thơm (tập thơ văn xuôi, viết 1940-1945, in 1995)Phần thơ dịch có các tác phẩm: Thơ Liên Xô (1962), Thơ Pêtôphi (1962), Thơ Inđônêxia (1964), Thơ Mickiêvich (1966), Thơ Enđrê Ađy (1977), Thơ Vapxarôp (1981), Thơ Victo Huygô (1986), Thơ Trantômer (Thụy Điển, 1993), Tuyển tập thơ Pháp (3 tập, 1989-1994), Thơ đương đại (1966), Thơ Bagriana (1994, dịch chung), Thơ Êluya (1995, dịch chung), Thơ I-xra-en đương đại (1996)... Nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2001.

Nhà phê bình Đỗ Lai Thúy từng nhận định rằng nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh là “Người bắc nhịp cầu đầu tiên trong Thơ Mới sang thơ hiện đại” (tạp chí Sông Hương số 164 tháng 10/2002).

Nhà thơ Phùng Quán: Ông sinh năm 1932 (Nhâm Thân). Năm 1955, tác phẩm đầu tay của ông, tiểu thuyết Vượt Côn Đảo được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải thưởng. Quá trình viết tác phẩm này được ông viết lại khá chi tiết trong hồi ký “Tôi đã trở thành nhà văn như thế nào?" (NXB Văn nghệ Tp.HCM xuất bản năm 2007) với nhiều chi tiết thú vị về sự ngẫu nhiên và tình cờ đưa ông từ một người lính trở thành một nhà văn. Cùng năm đó, ông cho ra đời tập thơ Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo. Năm 1987, tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của ông được xuất bản, và năm 1988, tiểu thuyết đã nhận được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam. Ngoài văn xuôi, Phùng Quán còn sáng tác thơ và có nhiều bài thơ nổi tiếng như: Lời mẹ dặn, Hoa sen, Hôn, Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe... Trong sự nghiệp sáng tác, nhà thơ Phùng Quán còn có các tác phẩm: Thơ Phùng Quán (1995), Trăng hoàng cung (1993), Thơ Phùng Quán (2003), Ba phút sự thật (2006), Tôi đã trở thành nhà văn như thế nào? (2007), Phùng Quán còn đây, Di cảo của Phùng Quán và Hồi ức của bạn bè (2007).

Nhà thơ Phùng Quán có nhiều tác phẩm được các thế hệ bạn đọc mến mộ. Trong số các tác phẩm của mình, bằng những lời thơ chân thực “Yêu ai cứ bảo là yêu/ Ghét ai cứ bảo là ghét/ Dù ai ngon ngọt nuông chiều/ Cũng không nói yêu thành ghét/ Dù ai cầm dao doạ giết/ Cũng không nói ghét thành yêu” đã trở thành tuyên ngôn long trọng của người cầm bút. Cho đến cuối đời ông vẫn giữ được niềm đam mê đối với văn chương. Năm 2007, ông được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật.

Nhà thơ Nguyễn Bao: Sinh năm 1932 (Nhâm Thân). Ông sáng tác và có thơ đăng báo khi đang theo học năm thứ nhất Trường Đại học Sư phạm Văn khoa Hà Nội (1954). Trong sự nghiệp của mình, nhà thơ được đảm nhận nhiều công việc liên quan tới văn học. Các tập thơ và truyện thơ đã xuất bản gồm có: Đôi cánh (1962), Vua Rồng xứ Lạc (1968), Hoa đỏ Trường Sơn (1974), Suối bên đường (1977), Gió thơm (1980), Sang thu (1995), Thơ với tuổi thơ (2004)… Nhà thơ Nguyễn Bao nổi tiếng bởi bài thơ Hoa chanh với những câu thơ đã trở thành biểu tượng cho lời ước hẹn hạnh phúc đôi lứa cho nhiều cặp đôi từ thời chiến cho tới tận bây giờ “…Có một xóm vui/ Đám cưới mùa xuân// Trầu hái giàn nhà, thắm môi hai họ./ - Có anh thương binh/ Đêm ngồi bên vợ/ Tóc ai dài thơm nước lá chanh!”. Nhà thơ Nguyễn Bao còn là anh trai nhà thơ Nguyễn Biểu- Định Hải, nổi tiếng với nhiều bài thơ sáng tác dành cho thiếu nhi.

Nhà thơ Trần Nhuận Minh: Sinh năm 1944 (Giáp Thân), nhà thơ Trần Nhuận Minh được độc giả biết đến với những bài thơ đăng báo từ năm 1960. Các tác phẩm chính của ông chủ yếu là thơ, ngoài ra ông còn viết truyện vừa, tiểu luận, biên khảo và văn. Một số tác phẩm đã xuất bản gồm có: các tập thơ Đấy là tình yêu (1971), Âm điệu một vùng đất (1980), Thành phố bên này sông (1982), Nhà thơ áp tải (1989), Hoa cỏ (1992), Nhà thơ và hoa cỏ (1993), Giọt phù sa vạn dặm (2000), Trần Nhuận Minh - Thơ với tuổi thơ (2003), Bản Xônat hoang dã (2003), Gửi lại dọc đường (2005), Trần Nhuận Minh- tuyển thơ (2005), 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh (2007), Miền dân gian mây trắng (2008), Bốn mùa - Four seasons (2008), Bốn mùa (2009), Miền dân gian mây trắng - The white cloud popular area (2011), Cánh rừng đã bay về trời (2012), cuối năm 2014, Tinh tuyển thơ Trần Nhuận Minh đã được dịch, xuất bản bằng tiếng Trung và giới thiệu tại Bắc Kinh (Trung Quốc). Văn: Trước mùa mưa bão (1980), Hòn đảo phía chân trời (2000), Truyện chọn lọc cho thiếu nhi (2002), Đối thoại văn chương (2012 - in chung với nhà thơ Nguyễn Đức Tùng, Canada). Tiểu luận và biên khảo: Thời gian lên tiếng (2013), Tuyển tập thơ Hạ Long (1977), Tuyển tập thơ Bạch Đằng giang (1988), Tuyển tập Nửa thế kỉ thơ Quân Khu Ba (1995); ông cũng tham gia tuyển chọn, giới thiệu thơ của 6 thi hào trong 6 tập Khuất Nguyên, Xergây Exênhin, Raxun Gamzatốp, Yanit Rítxốt, Nicôla Ghiden, Oan Uytman trong bộ sách Thi ca thế giới chọn lọc (2004)… Nhà thơ Vũ Quần Phương từng nhận xét “Thơ Trần Nhuận Minh giờ đây như một hồ sơ xã hội. Hồ sơ lưu sự kiện lưu con người lưu được cả tâm hồn tính cách xã hội”. Nhà thơ Trần Nhuận Minh cũng là anh trai của nhà thơ thần đồng Trần Đăng Khoa nổi tiếng. Với những đóng góp cho nền văn học nước nhà, năm 2007, nhà thơ đã được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật.

Nhà thơ Vương Anh: Sinh năm 1944 (Giáp Thân). Được biết đến từ những năm 1970 với những sáng tác mang đậm tính dân tộc nhưng cũng rất hiện đại, nhà thơ có một sự nghiệp thơ đa dạng về chủ đề, nguồn cảm xúc và thể loại. Nhà thơ Vương Anh là một trong những nhà thơ hàng đầu của người Mường nói riêng và các nhà thơ dân tộc miền núi nói chung. Với chùm thơ gồm các bài: Hoa trong Mường, Tình còn tình chiêng, Theo những dấu chân, Một chặng đường ta qua của ông được giải nhì cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1969, nhà thơ Nông Quốc Chấn đã coi đó là: "một trong những thành tựu mới trên lĩnh vực văn học do chính sách dân tộc của Đảng đưa lại".

Đến nay, nhà thơ Vương Anh đã có hơn mười tập thơ, trường ca như: Sao chóp núi (1968), Trăng mắc võng (1973), Tình còn (1978), Sương mơ Tà Kóm, Đến hẹn (1983), Hoa Li Pa yêu (1989), Rượu mặn (1993), Lá đắng (1996), Một thoáng Hủa Phăng (1996), Vượn Tía lạc vào cổ tích (1990), Chợ tình đứt quai trăng (2003), Hồn chiêng gánh núi (2008); các sách sưu tầm biên dịch: Đẻ đất đẻ nước (1975), Khăm Phanh (1978), Truyện cổ Mường (in chung, 1980), Tuyển tập truyện thơ Mường (in chung, 1986), Hoa ban tím (1994), Trăng cài then (1995), Mo sử thi Mường (1998), Tiếp cận văn hóa bản Mường (2001), Tiếp cận văn hóa bản Thái (2003), Tiếp cận văn hóa bản Mông (2003)…

Nhà thơ được ghi nhận bởi công trình lao động bền bỉ suốt 40 năm để bộ sử thi Mo Mường Đẻ đất đẻ nước đến với đông đảo bạn đọc.

Nhà văn Phạm Ngọc Tiến: Sinh năm 1956 (Bính Thân) tại Hà Nội. Nhà văn Phạm Ngọc Tiến tốt nghiệp khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội. Là nhà văn gắn bó với đề tài nông thôn nhưng ông được biết đến nhiều hơn qua các kịch bản phim truyện và phim truyền hình, trong đó phần lớn các kịch bản phim này cũng gắn liền với đề tài nông thôn quen thuộc như Đường đời, Ma làng, Gió làng Kình, Chuyện làng Nhô… Các tập truyện ngắn và tiểu thuyết đã xuất bản: Họ đã trở thành đàn ông (1992), Tàn đen đốm đỏ (1994), Đợi mặt trời (1995), Những sinh linh bé bỏng (1996), Người cha buôn hàng chuyến (2013)...

Ngoài chuyện văn chương, với chương trình từ thiện Cơm có thịt, nhà văn Phạm Ngọc Tiến là một trong những thành viên được cộng đồng đánh giá cao bởi sự nhiệt tình cũng như không quản ngại đau ốm, khó khăn khi thực hiện các chương trình từ thiện ở tận những vùng xa xôi hẻo lánh.

Có thể là thiếu sót nếu bỏ qua 2 cây bút trẻ là nhà nghiên cứu phê bình văn học Trần Thiện Khanh và dịch giả Cao Việt Dũng. Cả 2 đều sinh năm Canh Thân (1980), họ có nhiều đóng góp đối với mảng văn học dịch và phê bình văn học Việt Nam đương đại.

Với Cao Việt Dũng, độc giả biết đến anh qua các tác phẩm dịch văn học của các tác giả nổi tiếng như Milan Kundera, V.S. Naipaul, Michel Houellebecq, Henning Mankell, Émile Zola, Plutarque… Tới nay nhiều tác phẩm dịch của anh đến tay nhiều độc giả như: Cuộc sống không ở đây, Khúc quanh của dòng sông, Vô tri, Điệu valse giã từ, Phía Nam biên giới- phía Tây mặt trời, Những kẻ thiện tâm, Tường lửa… Hiện tại anh đang chuyển hướng sang dịch các tác phẩm phê bình nghiên cứu, cũng có thể đó là do chuyên ngành anh đang theo đuổi.

Nhà nghiên cứu lý luận phê bình văn học trẻ Trần Thiện Khanh cũng là một trong những cây viết trẻ được giới phê bình trong nước đánh giá cao bởi sự làm việc cẩn trọng, cùng với những bài viết phê bình khá sâu sắc được đăng trên nhiều cơ quan báo chí trong nước. Hiện anh khá thành công với trang web chuyên về Phê bình văn học. Năm vừa qua anh cũng đã bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ Lý luận văn học, với đề tài “Diễn ngôn hiện thực trong văn học: những vấn đề lý thuyết và lịch sử”.

Điểm lại một số gương mặt nhà văn tuổi Thân (được lựa chọn một cách ngẫu nhiên), để thấy rằng từ người nhiều tuổi (sinh năm 1920) tới người trẻ (sinh năm 1980) đều đã có những thành công nhất định trong sự nghiệp văn chương của mình, đó cũng là một trong những điều mà chúng tôi muốn độc giả biết đến như một khởi đầu thuận lợi cho văn học Việt Nam trong năm mới Bính Thân. Để rồi đến cuối năm, bên ấm trà nóng hổi, ta lại ngồi tổng kết lại thành quả của một năm lao động chữ nghĩa, để cùng mừng với các tác giả là tâm điểm của năm tuổi của họ như một dấu ấn trong dòng chảy văn học Việt Nam.

Minh Thu (tổng hợp)

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại