Rừng xưa đã khép (*)
18-10-2015 04:25


(Toquoc)- Giai điệu ca khúc buồn mà đẹp ấy của Trịnh Công Sơn cứ theo mãi trong tôi trên đường về, sau khi cùng bạn văn Trung Trung Đỉnh và Tạ Duy Anh
sang khu tập thể Nhà máy gỗ Cầu Đuống vĩnh biệt nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh. Một đám tang ngoại lệ, như một thường dân, tổ chức ngay tại ngôi nhà trong khu tập thể gia đình mà Ông đã gắn bó hơn nửa thế kỷ. Từ chối một vị trí trang trọng với đông đúc bạn bè văn nghệ và quan chức xứng với một vị Đại tá, Ông chọn cách chia ly đầm ấm với những công dân bình thường trong xóm lao động mà từ lâu đã biết và yêu quý Ông như một biểu tượng đẹp của Anh Bộ đội Cụ Hồ, một loại “động vật’’ ngày càng trở nên quý hiếm.

Rừng xưa đã khép (*) - ảnh 1
Nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh (ảnh Nguyễn Ngọc Phú- nguồn giadinh.net.vn)


Rời quê hương Thạch Hà- Hà Tĩnh từ năm 14 tuổi, Ông vào một đơn vị bộ đội ở chiến trường Binh- Trị- Thiên, khi theo Phạm Duy học nhạc, rồi theo Bửu Tiến làm kịch để thành một diễn viên kịch có tiếng. Sau hòa bình 1954, đang ở Đoàn kịch Quân đội, khi xây dựng gia đình, vợ chuyển ngành làm công nhân từ ngày Nhà
máy Gỗ Cầu Đuống mới ra đời. Còn Ông cứ biền biệt khi chiến trường Trị Thiên tức B4 những ngày đầu đánh Mỹ, Mậu Thân, theo đơn vị Văn công vào Thành phố Huế bám trụ gần một tháng. Có hai con trai, chỉ thấy một mình chị Tỵ vừa làm lụng vừa nuôi con. Ở chiến trường ra, về Văn nghệ Quân đội, tiếng là gần nhà, nhưng lại luôn đi công tác, trở lại Quảng Trị Mùa hè đỏ lửa 1972, giới tuyến Vĩnh Linh những ngày đạn bom ác liệt, rồi 1975, theo đại quân vào giải phóng Miền Nam. Chưa yên việc nhà đã liên tục lên các tỉnh biên giới phía Bắc chuẩn bị rồi trực tiếp đánh bọn Bành trướng xâm lược, mấy lần sang với quân Tình nguyện chiến đấu ở Campuchia. Khi mọi mặt trận im tiếng súng thì chị Tỵ bị ốm rồi nằm liệt gần 20 năm. Một mình đàn ông lo việc cơ quan đến hồi khó khăn, nuôi hai con chưa trưởng thành, hàng xóm, chỉ biết thương cảm mà không thể đỡ đần được gì nhiều, càng kính phục tính chịu thương, chịu khó, chỉn chu của một người lính từ hồi chống Pháp. Bao khó nhọc, đắng cay của đời riêng được nuốt lặn vào trong, để bạn bè luôn gặp một nhà thơ điềm đạm, hiền hòa, với nụ cười thân thiện thường trực.

Mãi đến đầu năm 1971, từ chiến trường Trị Thiên ra học ở Học viện Chính trị, rồi đột ngột bị điều về Tạp chí VNQĐ, tôi mới lần đầu được gặp Ông. Quảng Trị, rồi Vĩnh Linh- Vĩ tuyến 17- giới tuyến quân sự tạm thời- quê tôi là nơi Ông thông thuộc từ 9 năm chống Pháp, rồi chiến trường Trị Thiên thời chống Mỹ, bao địa danh quen thuộc nào binh trạm, dốc đèo, sông suối, từng chiến dịch, trận đánh hai đứa đã từng qua, cả Thạch Hà- Hà Tĩnh quê nhà mà Ông rời xa từ những năm đầu chống Pháp để vào bộ đội, cũng là nơi tôi từng đến những năm còn thơ ấu, là những lý do để qua trò chuyện chúng tôi thành những người gần gũi, thân thiết với nhau. Cũng như Thu Bồn, không hơn tôi bao nhiêu tuổi, nhưng các anh đã hơn chúng tôi một cuộc kháng chiến trường kỳ- gian khổ là 9 năm chống Pháp. Lại còn 10 năm hòa bình trên miền Bắc, các anh vẫn trong màu áo lính nên nhiều dịp cùng nhau đi công tác sau này, nơi tôi đến lần đầu với bao bỡ ngỡ, thì các anh đã biết tường tận tự bao giờ, không chỉ đặc điểm địa hình, tên làng tên bản, mà còn nhớ, quen tên từng người, từng vị ngày nay đã thành chỉ huy đơn vị. Trước khi về VNQĐ, nhiều năm Phạm Ngọc Cảnh đã là diễn viên các đoàn Văn công trong Quân đội tư Văn công Bình Trị Thiên những năm chống Pháp, rồi kịch nói Tổng cục Chính trị, Văn công Quân khu Trị Thiên mấy năm chống Mỹ. Thơ anh với rất nhiều địa danh thành ra thơ là nhật ký của chính cuộc đời nhiều biến động, thiên di của một người lính luôn tới bất cứ nơi đâu Tổ quốc cần và làm bất cứ việc gì được tổ chức phân công. Và ở bất cứ đâu người lính tài hoa này cũng làm tốt hơn một vị trí công tác cụ thể. Bởi là một diễn viên kịch hơi bị đẹp trai, mà vai Trung úy Phương trong kịch Nổi gió là một dấu ấn khó phai; một giọng ngâm thơ điệu đàng, có duyên, anh luôn được biết đến là một nhà thơ không có tuổi. Làm thơ từ những ngày còn chống Pháp, nhưng Phạm Ngọc Cảnh luôn được xếp trong hàng đầu những nhà thơ thời chống Mỹ. Đến thời bình, những tìm tòi mới trong thơ lại đặt thơ Ông cạnh lớp hậu sinh nhiều cách tân về ngôn từ, vần điệu.

Cũng như bao nhà thơ xưa nay, thơ làm nên tên tuổi mà không nuôi nổi con người nhà thơ. Suốt đời, Ông là một người lính văn nghệ, nghĩa là làm một công việc cụ thể, khi là một diễn viên trong đoàn văn công, khi là một biên tập viên thơ của Tạp chí VNQĐ, và trước khi về hưu, còn được giao phụ trách Ban Trị sự của tờ Tạp chí, nghĩa là mọi việc hành chính kinh tế, in ấn để báo ra được đúng kỳ. Bấy nhiêu công việc hình như không làm vơi cạn năng lượng sống của một người lính đa tài. Ngày người lính chống Pháp cuối cùng của Tạp chí về hưu, hình như những bạn trẻ phụ trách rất ngập ngừng, đắn đo khi sắp trao quyết định nghỉ cho Ông, thì Phạm Ngọc Cảnh chủ động gặp và nói một cách dứt khoát để ra về mà không có bất cứ một yêu cầu đặc biệt nào. Nhưng từ đó cũng bắt đầu một chặng đường nỗ lực mới để kiếm nguồn kinh phí nuôi một gia đình đang hồi tận cùng khó khăn, khi người vợ bệnh tình chuyển nặng hơn, con chưa trưởng thành: Làm phim, viết kịch bản, lời bình cho nhiều đơn vị. Lịch lãm, tin cẩn, chắc chắn về chính trị, vốn tri thức đầy đặn, tài sử dụng ngôn ngữ linh hoạt làm nên những tập phim tài liệu, ký sự lịch sử có chất lượng. Ông trở thành một nhà làm phim có uy tín, được nhiều đơn vị nhờ cậy. Và những giải thưởng liên tục giành cho những bộ phim ấy là một sự đánh giá công minh.

Nhưng. Lại nhưng. Sức người nào rồi cũng có hạn. Chàng trai sinh năm Tuất gục xuống trên hành trình công việc. Mấy lần tai biến liên tục. Thật may, cuối đời, có một người con gái quá cảm động trước hoàn cảnh mà Ông kiên cường chịu đựng, đã tình nguyện chung vai gánh vác gánh nặng gia đình với Ông. Mỗi lần Ông được đưa từ Thanh Hóa ra Bệnh viện 108 kiểm tra hay điều trị, khi đã thấy tạm yên ổn rồi, chị mới báo cho tôi. Mấy lần vào thăm, thấy sức khỏe ngày một yếu, nhưng không nghĩ ngày Ông ra đi, không kịp nói với nhau một lời.

Phạm Ngọc Cảnh ít khi nói to, nhưng thơ thì luôn nâng lên tầm nghĩ lớn. Những Sư đoàn, Đêm Quảng Trị, Đêm xuân Huế đỏ cờ bay, Những sân ga... Những chuyến tàu, Lý ngựa ô ở hai vùng đất là một mạch thơ chủ yếu trong cảm hứng thơ của lớp nhà thơ: Đường vào thơ là đường ra trận? Cây bút ta cài trước cửa tim (Điềm ơi). Cuối tháng 3-1975, khi Huế vừa giải phóng, trong đoàn văn nghệ sĩ quân đội đi thực tế có các nhạc sĩ Huy Du, Nguyễn Đức Toàn, các nhà văn của VNQĐ Hồ Phương, Xuân Sách, Hồng Duệ, tôi lần đầu được đi cùng Ông trên chiếc trực thăng MI8. Không thể quên được cảm xúc khó tả, khi từ trực thăng nhìn xuống con đường vào Nam mà chúng tôi từng nhiều lần đi trên nhiều phương tiện, ngày và đêm, đi bộ, đi xe, đi thuyền, bao lần gặp bom rơi, đạn nổ. Giờ dưới đường kia là nườm nượp người và xe, và bộ đội nối nhau gần kín mặt đường hướng ra mặt trận. Đúng là ngày mà mấy mươi năm làm người lính chúng tôi hằng ao ước. Vào Huế, hai anh em ở cùng một đơn vị bộ đội đóng trong một ngôi nhà nhỏ bờ bắc cầu Phú Xuân, gần cửa Thượng Tứ, mà chủ nhân đã chạy vào Nam chưa về. Trong nắng gắt tháng 3, hàng đoàn tù binh từ phía Nam được đưa ra Bắc, kìn suốt cầu Phú Xuân. Bờ nam sông Hương tràn ngập màu áo trắng của học sinh, sinh viên, đi làm trật tự và dọn vệ sinh. Lòng thắt lại, khi lo cho những bộ quần áo dài trắng của nữ sinh mai ngày lấy đâu ra xà phòng giặt để gi mãi được màu thanh khiết ấy? Nơi đây, Ông trở lại sau 7 năm phải rời đi, khi nhìn lá cờ nửa xanh, nửa đỏ trên cột cờ bị gió xé và đạn bắn te tua. Một cụm thơ được làm trong những ngày trở lại với những kỷ niệm có phần ngậm ngùi: Hồi Mậu thân tôi có về/ bắn mươi băng đạn rồi nghe em hò/ nghe đau mục ván con đò/ võ vàng em với âu lo Huế buồn/… tên dòng sông đẹp mà sao/ rong rêu trói chặt con sào đò ơi. Phải nhiều năm sau, tôi mới hiểu tâm trạng nhiều lo âu ấy. Bao nhiêu lời người lính đã từng hứa với người dân nhân danh sự giải phóng đã không thành hiện thực. Có chi như một sự bội ước

Ngỡ ngày toàn thắng, rồi đất nước thống nhất, từ nay chỉ có yên bình. Nhưng chỉ mấy năm sau, biên giới phía Bắc lại sinh chuyện. Mấy năm rập rình, hết nạn kiều, đến gây rối, mấy lần anh em tôi lại có dịp cùng nhau lên với bộ đội và đồng bào vùng biên giới. Khi đi dọc theo các đồn Biên phòng từ Lạng Sơn sang Cao Bằng, khi theo bộ đội Thông tin đi suốt các Trạm từ Đông Triều- Quảng Ninh, trở lại Cao Bắc Lạng rồi Thái Hà Tuyên. Lại có dịp gặp lại bao nhiêu đồng đội thân quen từ trong chống Mỹ. Đất nước hòa bình, mà những người lính nào đã có mấy ngày bình yên. Không thể quên những đêm thức trắng, theo bộ đội trực chiến, ra sát các đường biên quan sát hoạt động của phía bên kia. Phải nói thật là cảm giác bạn thù lúc này rất khó có thể viết thành thơ. Có gì đó, bấy giờ chúng tôi không cắt nghĩa được. Khi hàng vạn quân xô sang lấn chiếm, tàn phá tan nát cả vùng biên giới, các thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai bị pháo, rồi lính Tàu đốt phá tanh bành, bắn giết tàn bạo, xót xa, căm giận mà khi đuổi được giặc rồi, lại không có được niềm vui chiến thắng để có nhiều vần thơ? Chưa dứt tiếng súng phía Bắc, lại theo bước chân bộ đội tình nguyện sang Campuchia. Phạm Ngọc Cảnh đi nhiều, nghĩ nhiều, mà vẫn không tìm ra cái tâm thế của người lính thời chống Mỹ. Khoảng trống phía sau lưng của người lính những năm tháng này, làm nên một vệt thơ thế sự nhiều suy tư. Và chính nhờ thế mà thơ Ông không bị dừng lại trên những mốc son đã có trong thời chiến trận.

Xưa nay người ta hay so sánh những nhà văn, những trí thức như những cây cao, bóng cả. Nhưng nhớ đến Phạm Ngọc Cảnh, cũng như Thu Bồn, với một đời hoạt động sôi nổi, với hàng ngàn bài thơ, hàng ngàn trang văn, hàng trăm bài báo các loại, rồi ngâm thơ, diễn kịch, cùng muôn vàn công việc linh tinh, khi cầm súng, khi cầm bút, khi võ chân tay, khi võ mồm của một người lính đa năng, đa tài, tôi cứ thấy mỗi người, tự họ đã như một cánh rừng nguyên sinh. Chẳng phải cây nào cũng quý, hoa nào cũng lạ, nhưng với ai chịu tìm, thì mỗi nghệ sĩ- chiến sĩ như thế đã mang tới cho văn học nước nhà một cánh rừng sum suê, với sắc diện riêng khó lẫn, với những loại gỗ quý hiếm không phải thời nào cũng có. Tiếng gió cất lên từ những cánh rừng lạ đó đã làm nên bản giao hưởng thơ ca hùng tráng của đại ngàn Trường Sơn, mà hình như sau những Thu Bồn, Chính Hu, Vũ Cao, Phạm Tiến Duật… với sự ra đi của Phạm Ngọc Cảnh lần này, những cánh rừng như thế đã vĩnh viễn khép lại.

17-6-2015

Ngô Thảo

---------------

(*) Bài viết nhân Kỷ niệm một năm ngày mất nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh- Vũ Ngàn Chi 1934-21/10/2014)

 

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại