Cá chết, “bão” thủy ngân và cách quản lý của người Nhật
09-05-2016 09:27

(Tổ Quốc)- Nhật Bản đã trải qua những thiệt hại nghiêm trọng do thủy ngân gây ra như Bệnh Minamata - được chính thức công nhận vào năm 1956. Kể từ đó, Nhật Bản đã tăng cường các biện pháp bảo vệ môi trường và tham gia vào việc quản lý thủy ngân thông qua các nỗ lực chung của chính quyền quốc gia, địa phương và các ngành công nghiệp.

Cá chết, “bão” thủy ngân và cách quản lý của người Nhật  - ảnh 1

1. Thảm họa gây ra từ thủy ngân

Minamata là căn bệnh gì?

Minamata là căn bệnh gây ra khi ăn một lượng lớn cá và sò trong vùng biển bị ô nhiễm nặng vì thủy ngân thải ra vịnh Minamata. Đây không phải là căn bệnh lây nhiễm, hoặc bị di truyền về sau. Lần đầu tiên căn bệnh này được phát hiện tại Minamata thuộc tỉnh Kumamoto vào năm 1956, đến năm 1968, chính phủ Nhật bản đã chính thức tuyên bố, căn bệnh này do công ty Chisso gây ra vì đã làm ô nhiễm môi trường.

Công ty Chisso sử dụng thủy ngân hữu cơ là chất xúc tác để sản xuất acetaldehyde, axit acetic và các chất dẻo. Tất nhiên trong quá trình sản xuất, methyl thủy ngân đã được sinh ra và cứ được đổ thẳng xuống biển mà không qua bất kì một sự xử lý nào.

Cá chết, “bão” thủy ngân và cách quản lý của người Nhật  - ảnh 2

Bảo tàng bệnh Minamata ở Nhật Bản trưng bày các hình ảnh về người mắc bệnh. Ảnh: Masaru Komiyaji

Khi thủy ngân xâm nhâp vào cơ thể, chúng sẽ tấn công vào cơ quan thần kinh trung ương. Các triệu chứng là chân và tay bị liệt hoặc run lẩy bẩy, mệt mỏi, ù tai, mắt mờ, điếc, nói lắp bắp…các hành động của cơ thể trở nên yếu ớt. Những bệnh nhân đầu tiên ở Minamata đã bị điên, bất tỉnh và chết một tháng sau khi bị mắc bệnh.

 

Có những bệnh nhân bị mắc bệnh Minamata kinh niên, như là đau đầu, mệt mỏi thường xuyên, mất khả năng vị giác và khứu giác, hay quên…Những điều này biểu lộ không rõ nét nhưng làm cuộc sống của họ trở nên khó khăn hơn. Nhiều người còn bị bệnh Minamata bẩm sinh khi mẹ của họ đã ăn cá bị ô nhiễm thủy ngân khi đang mang thai họ, khiến cho họ sinh ra đã là người tàn tật

Cá chết, “bão” thủy ngân và cách quản lý của người Nhật  - ảnh 3

Những đứa trẻ bị dị tật vì Minamata. Ảnh: ENV

Theo thống kê năm 1997, số người trong hai tỉnh Kumamoto và Kagoshima chứng nhận là đã mắc bệnh Minamata lên tới 17 ngàn người.

 

Thủy ngân hữu cơ là gì?

Thủy ngân gây nên căn bệnh Minamata là một loại của thủy ngân hữu cơ. Đây là một loại bột trắng và có mùi giống như mùi lưu huỳnh bốc lên từ các suối nước nóng. Thủy ngân dễ dàng được dạ dày và ruột hấp thụ và chuyển theo đường máu tới não, gan, thận và thậm chí nhau thai. Thủy ngân cực kì độc và gây nên những hậu quả khôn lường.

2. Các giải pháp quản lý sự ảnh hưởng từ thủy ngân

Phát triển cộng đồng theo định hướng môi trường trong khu vực Minamata

Sau khi tiến trình sản xuất axetaldehyt - nguyên nhân gây ra phát thải thủy ngân - đã bị ngưng hoạt động vào năm 1968, lượng thủy ngân còn tích tụ trong lớp trầm tích của khu vực Minamata đã được nạo vét và đổ vào bãi rác có rào chắn tại khu bên trong vịnh Minamata.

Ngày nay, mức độ an toàn của cá và động vật có vỏ tại địa phương đã được xác nhận.

Việc rút ra những bài học về Bệnh Minamata và các nỗ lực hướng tới sự phục hồi cho khu vực như tài sản địa phương, nhiều sáng kiến khác nhau đã được thực hiện để phát triển khu vực Minamata: việc thành lập Học Viện Môi Trường Minamata (sẽ được đưa vào hoạt động vào năm 2016) vốn sẽ nỗ lực phục vụ các vai trò trọng tâm trong việc tăng cường các hoạt động giáo dục và nghiên cứu tiên tiến, thúc đẩy hợp tác giữa ngành công nghiệp - học viện - chính phủ và thu thập kiến thức; thúc đẩy phát triển ngành du lịch ít khí cacbon và dựa vào cộng đồng, v.v. Những sáng kiến này bao gồm nhiều hoạt động khác nhau để thực hiện mô hình phát triển mới tại khu vực trong khi vẫn giảm tác động đối với môi trường.

Hội nghị Ngoại giao về Công ước Minamata về Thủy ngân

Vào tháng 10 năm 2013, Hội Nghị Ngoại Giao về Công Ước Minamata về Thủy Ngân và hội nghị liên quan đã được nhóm họp tại Kumamoto và Minamata để ký kết và thông qua Công Ước. Hơn 1.000 đại biểu gồm các quan chức chính phủ từ 139 quốc gia/khu vực đã tham gia hội nghị, và 92 quốc gia (kể cả Liên Minh Châu Âu) đã ký Công Ước.

Tại hội nghị, Nhật Bản đã bày tỏ ý định hỗ trợ nỗ lực của các quốc gia đang phát triển nhằm thực thi sớm Công Ước thông qua hành động mang tên “Sáng Kiến MOYAIĐiểm chính của các biện pháp thực hiện Công Ước Minamata ở Nhật Bản”. Thống đốc tỉnh Kumamoto đã đọc “Bản Tuyên Bố Loại Trừ Thủy Ngân” để thực hiện các hoạt động quan trọng hàng đầu ở cấp thành phố.

Tại phiên khai mạc hội nghị, một nghi lễ đã được tổ chức tại Minamata. Những đại biểu tham dự đã viếng thăm Bảo Tàng Thành Phố Bệnh Minamata, tham dự Lễ Tưởng Niệm Các Nạn Nhân Bệnh Minamata để dâng hoa và trồng cây lưu niệm, và gặp mặt các cư dân Minamata và bệnh nhân mắc Bệnh Minamata.

Nhận thức được những bài học quan trọng về Bệnh Minamata, Nhật Bản tự cam kết đi tiên phong thế giới trong việc bảo vệ sức khỏe con người và môi trường khỏi tác hại của thủy ngân.

Để thực hiện có hiệu quả và kịp thời Công Ước Minamata, Nhật Bản đã ban hành Đạo Luật Phòng Chống Ô Nhiễm Môi Trường Do Thủy Ngân và phần sửa đổi Đạo Luật Kiểm Soát Ô Nhiễm Không Khí. Với những luật này và các luật định liên quan khác, Nhật Bản sẽ thực hiện việc quản lý thủy ngân vượt mức yêu cầu của Công Ước.

Điểm 1. Quy định về việc sử dụng thủy ngân hoặc các hợp chất thủy ngân trong những sản phẩm và quy trình sản xuất.

Cấm sản xuất, nhập khẩu hoặc xuất khẩu những sản phẩm cụ thể có chứa thủy ngân (kể cả những sản phẩm lắp ráp có chứa thủy ngân, chẳng hạn như đồ chơi).

Tiếp tục sử dụng các sản phẩm thay thế cũng như sản phẩm chứa thủy ngân, đồng thời tăng cường các tiêu chuẩn quản lý đối với những sản phẩm cụ thể có chứa thủy ngân trong đó hành vi sản xuất, nhập khẩu hoặc xuất khẩu sẽ bị cấm theo Công Ước (ví dụ như pin và đèn) bằng cách giảm ngưỡng hàm lượng thuỷ ngân và áp đặt ngày dừng hoạt động sớm.

Nghiêm cấm sử dụng thủy ngân hoặc những hợp chất thủy ngân trong các quy trình sản xuất cụ thể như quy trình áp dụng cho clo - kiềm và chloride monomer, và trong ngành khai thác mỏ vàng bao gồm ASGM. (Nhật Bản đã thông qua phương pháp loại trừ thủy ngân cho các quy trình này)

Điểm 2: Cung cấp, xuất khẩu và nhập khẩu thủy ngân

Đảm bảo thủy ngân xuất khẩu từ Nhật Bản được tái chế thích hợp từ rác thải và bùn và không có nguồn gốc từ hoạt động khai thác mỏ thủy ngân chính - hiện không hoạt động và sẽ bị cấm tại Nhật Bản.

Cấm hoàn toàn xuất khẩu cho các mục đích bị cấm theo Công Ước cũng như sử dụng trong ASGM hoặc hoạt động lưu trữ tạm thời.

Bao gồm các hợp chất thủy ngân cụ thể mà từ đó thành phần thủy ngân nguyên tố có thể dễ dàng được trích xuất cho đối tượng bị hạn chế xuất khẩu nhằm ngăn chặn các luồng kẽ hở trốn thuế.

Chấp thuận cho xuất khẩu chỉ khi nào người dùng cuối và mục đích sử dụng có thể được xác nhận trước và cần có báo cáo sau khi xuất khẩu nhằm ngăn chặn việc sử dụng thủy ngân hoặc các hợp chất thủy ngân không đúng mục đích.

Điểm 3: Thúc đẩy việc gắn nhãn sản phẩm và thu gom chất thải thích hợp (nghĩa vụ đối với những nỗ lực tốt nhất của các bên liên quan)

Chính quyền quốc gia:

Phải cố gắng cung cấp cho chính quyền thành phố những hoạt động tư vấn kỹ thuật và hỗ trợ khác cần thiết để họ thu gom thích hợp rác thải của các sản phẩm có chứa thủy ngân (bằng cách soạn thảo thông tin về các quy định thu hồi tốt nhất và thúc đẩy tiến trình thực hiện chúng).

Chính quyền thành phố: Phải cố gắng thực hiện những biện pháp cần thiết để thu gom thích hợp rác thải của các sản phẩm có chứa thủy ngân.

Nhà sản xuất và nhà nhập khẩu: Phải cố gắng cung cấp cho người tiêu dùng những thông tin hỗ trợ xử lý riêng các sản phẩm có chứa thủy ngân, kể cả việc gắn nhãn sản phẩm chứa thủy ngân.

Điểm 4: Kiểm soát phát thải ra bầu khí quyển

Thiết lập quy trình thông báo cho năm loại cơ sở tuân thủ Công Ước (bao gồm cả các cơ sở hiện có và cơ sở vừa mới thành lập) và áp đặt nghĩa vụ để tuân thủ các tiêu chuẩn phát thải thủy ngân và giám sát nguồn phát thải đối với các cơ sở này.

Áp đặt nhiệm vụ nỗ lực tự nguyện để kiểm soát nguồn phát thải đối với những cơ sở vừa không tuân thủ Công Ước vừa phát thải một lượng thủy ngân đáng kể (ví dụ: cơ sở sản xuất sắt thép)

Nhờ những biện pháp và hành động trên, lượng thủy ngân trong nước đã giảm từ mức cao nhất 2.500 tấn xuống còn khoảng 9 tấn (khoảng 1/400 trong tổng số toàn cầu). Phát thải thủy ngân ra bầu khí quyển cũng đã giảm xuống còn khoảng 20 tấn (khoảng 1/100 trong tổng số toàn cầu). (2010)

 

 

Thùy Dương (Theo env.go.jp)

 

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại