Bài 2: ‘Kịch bản không phải là tội phạm!’
Thứ Ba, ngày 06/04/2010 - 15:14

(Toquoc)- “Kịch phải chấp nhận thực tế là không bao giờ trở về thời hoàng kim như xưa được nữa. Ai có cố công làm điều đó thì chỉ có thất bại!”- Nhà viết kịch Phạm Văn Quý chua chát khẳng định.

Nhà viết kịch Phạm Văn Quý nổi tiếng trong Sài Gòn với những vở hài kịch hút khách, nhưng đồng thời ông cũng là chủ nhân của những vở diễn chẳng ai mua vé ở ngoài Bắc. Ông đã chia sẻ những suy nghĩ của mình về sự vắng vẻ của sân khấu kịch và những lý giải rất riêng của mình cho báo điện tử Tổ Quốc.

- Miền Bắc là lãnh địa của kịch. Kịch Bắc cũng có một thời hoàng kim trong những năm bao cấp. Tại sao bây giờ sân khấu phía Bắc lại bị thất sủng đến thế trong khi sân khấu phía Nam lại luôn nườm nượp người xem?

+ Nói thế không hoàn toàn đúng. Đâu phải chỉ có sân khấu kịch phía Bắc mới vắng khán giả, sân khấu phía Nam cũng như thế, trừ thành phố HCM. Nghĩa là, trừ Sài Gòn ra, tất cả những chỗ khác đều giống nhau. Mà tại Sài Gòn cũng chỉ có kịch là hút khách thôi, chứ các loại hình sân khấu khác cải lương, tuồng, chèo, bài chòi…cũng bị gạt ra rìa.

Bài 2: ‘Kịch bản không phải là tội phạm!’  - ảnh 1

"Khán giả không hề quay lưng với kịch mà là họ không quan tâm tới kịch. Không quan tâm kịch vì họ có quá nhiều mối quan tâm khác"- Nhà viết kịch Phạm Văn Quý

Tôi thấy buồn cười khi người ta đánh giá: nền sân khấu phía Nam có 4 điểm sáng là sân khấu nhỏ 5B, kịch Sài Gòn, Idecaf và Phú Nhuận. Những sân khấu này chỉ diễn mỗi kịch nói, mà cũng chỉ chuyên hài kịch. Làm sao được gọi là đại diện cho cả nền sân khấu phía Nam.

- Vậy thì theo ông, sự thất sủng của kịch nói tại trung tâm văn hóa của đất nước và các tỉnh khác, trừ TP.HCM, là do đâu?

+ Câu hỏi này các nhà làm sân khấu cũng đặt ra cả hai chục năm nay mà không có lý giải thỏa đáng. Từ khi sân khấu Hà Nội và các tỉnh vắng đến giờ, tôi đếm đã có 10 cuộc hội thảo lớn về vấn đề này. Cuộc hội thảo nào cũng quy mô cả, và tranh luận gay gắt lắm. Cuối cùng, người ta kết luận là: do không có kịch bản ngang tầm thời đại.

Cái câu kết luận đó bị nhiều người bức xúc. Họ vặn vẹo: thế nào là ngang tầm thời đại, đến đâu thì ngang tầm thời đại? Thế là cụm từ ngang tầm thời đại bị bỏ đi, thay bằng từ “hay”. Tựu trung lại là không có kịch bản hay.

Thế có nghĩa người ta khẳng định: sở dĩ sân khấu Sài Gòn đông khách là do có kịch bản hay?

- Có vẻ ông không đồng tình với ý kiến đó?

+ Để tôi kể cho bạn nghe. Sau khi rút ra kết luận đó, người ta đổ vào hàng tỷ đồng để dựng lại các vở kinh điển, các vở ăn khách nhất thời hoàng kim, các vở của Lưu Quang Vũ… Rốt cục, khán giả vẫn không đến.

Rồi người ta lại nghĩ hay tại nhà hát xập xệ quá, dân chê không thèm vào. Thế là hàng tỷ đồng nữa đổ vào sửa sang các nhà hát, lắp hệ thống âm thanh chất lượng cao, gắn điều hòa máy lạnh. Khán giả vẫn không đến.

Rõ ràng kịch bản không phải là tội phạm trong “vụ án sân khấu” này. Thế nên, bao nhiêu tiền Nhà nước bỏ ra đầu tư cho sân khấu cũng như muối bỏ bể.

- Tuy nhiên, không thể phủ nhận, thời hoàng kim của sân khấu, kịch bản chính là một nguyên nhân quan trọng kéo khán giả đến rạp và khiến khán giả say mê?

+ Cái thời hoàng kim của sân khấu ấy phải đặt trong bối cảnh lịch sử - xã hội thời ấy.

Kịch nói mới du nhập vào nước ta hồi đầu thế kỷ XX. Suốt những năm kháng chiến, kịch nói vẫn còn hết sức giản lược. Các loại hình khác như chèo, tuồng, cải lương lúc ấy cũng chưa có hình hài. Chính Đảng và Nhà nước đã có công lớn trong việc xây dựng một nền sân khấu chính quy, bài bản như bây giờ, trong đó có sân khấu kịch.

Suốt từ những năm 60 đến cuối những năm 80 là thời hoàng kim của sân khấu Việt Nam. Nghĩa là vở nào ra cũng đông khách.

Bởi vì thời đó, người ta không chỉ đói về vất chất mà còn đói cả tinh thần.

Người ta làm gì có cái gì khác để giải trí ngoài sân khấu.

Chị gái tôi là diễn viên của đoàn Kim Phụng nói trong cảnh ăn độn triền miên rằng: “Chỉ cần có cơm trắng với muối vừng, chị ăn cả đời cũng được.”

Nhưng bây giờ thì chị không ăn cơm trắng với muối vừng cả đời. Khi đời sống được nâng lên, người ta lại đòi hỏi những nhu cầu cao hơn.

Thời bao cấp cũng có nhiều vở kịch dở, nhiều kịch bản dở nhưng vẫn đông vì khi đó đói quá, họ chỉ yêu cầu đến thế thôi. Chứ không phải sân khấu hoàng kim vì kịch bản quá hay.

Bài 2: ‘Kịch bản không phải là tội phạm!’  - ảnh 2

"Tôi cho rằng, thay vì cố làm mọi cách để giành lại thị phần trong thành phố, kịch cứ về các vùng nông thôn, phục vụ tầng lớp bình dân"- Phạm Văn Quý nhận định (Ảnh: Cảnh trong vở Mẹ và người tình của sân khấu kịch Phú Nhuận)

- Phải chăng ông muốn nói: chính ‘cái no’ đã ‘giết chết’ sân khấu. Sự phát triển mạnh mẽ của vô vàn những phương tiện giải trí hấp dẫn khác đã khiến kịch bị lép vế như hiện nay. Nói thế có phải là bao biện cho một giai đoạn sân khấu đã ì ạch, thụ động, lười thay đổi?

+ Nếu sân khấu không ì ạch, chủ động thì cũng chẳng có tác dụng gì nhiều, không thay đổi được thực tế là đã bị truyền hình, internet đã chiếm hết thị phần. Trừ khi Nhà nước đóng cửa biên giới lại, bắt truyền hình chỉ phát 5 tiếng hay 12 tiếng một ngày như trước đây.

Tôi vẫn nói: truyền hình đã “giết chết” sân khấu. Tôi muốn xem kịch, có kịch. Muốn xem nhạc có nhạc. Muốn xem phim có phim. Tôi chỉ cần nằm nhà thưởng thức mà không phải đi đâu hết, không phải đội nắng, đội mưa, kẹt xe, tắc đường. Rõ ràng là sung sướng hơn nhiều. Đến như ông Doãn Hoàng Giang – cả đời tâm huyết với kịch, nhưng nếu tối nay có trận bóng mà ông ấy thích thì có mời bằng giời cũng không lôi được ôđược ông ấy đi xem kịch mà không phải do ông ấy dựng.

Kịch phải chấp nhận thực tế là không bao giờ trở về thời hoàng kim như xưa được nữa. Ai có cố công làm điều đó thì chỉ có thất bại.

- Vậy ông giải thích thế nào về việc một nơi sầm uất, phát triển và sôi động các dịch vụ giải trí như Sài Gòn lại có đất dành cho kịch?

+ Một là do thói quen của người Sài Gòn. Người Hà Nội tối đến là về nhà đóng cửa. Người Sài Gòn tối đến là ra đường. Ngày làm bao nhiêu tiền, tối về họ đi ăn hàng, đi xem phim, xem kịch để tiêu tiền và tiêu thời gian.

Mà họ cũng thích xem hài hơn cả. Tôi đã từng chứng kiến khán giả trong Nam vào rạp xem hài kịch. Họ cười sảng khoái, cười chán chê, và bước ra khỏi rạp cũng là xong – không cười, không bàn luận bất kỳ điều gì về vở kịch vừa xem.

Thêm vào đó, nói thẳng thắn, mặt bằng dân trí trong Sài Gòn thấp hơn ngoài Hà Nội. Họ không đòi hỏi cao về chất lượng vở diễn. Họ chỉ cần giải trí, cười càng tốt, không thích phải suy nghĩ .

Tâm lý thưởng thức này cũng lan ra ngoài Hà Nội. Người ta cũng không thích xem những vở kịch có nhiều triết lý, bắt họ phải tư duy nhiều. Cho nên dù vắng khán giả, nhưng hài kịch Hà Nội vẫn tạm sống được.

Hồng Vân từng nói muốn đưa kịch ra Bắc mà không biết mở cửa trái tim khán giả Bắc bằng cách nào. Thẳng thắn mà nói: chả có cách nào cả. Mang kịch Nam ra Bắc là chết toi

- Có vẻ như các nhà làm sân khấu đều đổ cho khán giả quay lưng với kịch chứ lỗi không do người làm kịch. Ấy vậy mà tôi nghe nhiều khán giả chê kịch bây giờ kém chất lượng!

+ Tôi có bảo khán giả quay lưng với kịch đâu. Khán giả không hề quay lưng với kịch mà là họ không quan tâm tới kịch. Không quan tâm kịch vì họ có quá nhiều mối quan tâm khác. Còn nói thật, có mấy ai đi xem đâu mà biết chê. Các nhà quản lý, các nhà phê bình sân khấu có bao giờ đi xem kịch không? Họ ở đâu khi sân khấu cần có những đánh giá khách quan và công tâm? Tôi thấy bấy lâu nay, công tác phê bình sân khấu đã được các nhà phê bình đáng kính giao cả cho cánh phóng viên. Toàn thấy phóng viên - hầu hết đều ‘chip chip, măng tơ’ - viết phê bình như đúng rồi. Họ không có kiến thức sân khấu, tránh sao khỏi những ý kiến phiến diện. Mà một lời chê trên báo cũng đủ hàng trăm khán giả quay lưng. Nhưng nếu khen mà khen không đúng thì cũng tệ hại không kém. Khán giả đi xem sẽ bị thất vọng “hóa ra chỉ được đến thế”.

- Công tác phê bình nếu hoạt động tốt liệu có vực dậy được sân khấu không? Kịch nói liệu có thoát khỏi cảnh sống dở chết dở như hiện nay?

+ Tôi cũng chẳng dám chắc, nhưng sẽ không có vở diễn bị chết oan thôi. Còn cảnh sống dở chết dở mà bạn nói không đúng với thực tế. Thực tế, các đoàn kịch vẫn sống. Dù bị các phương tiện giải trí hiện đại chèn ép ra khỏi thành phố nhưng kịch vẫn có đất sống ở nông thôn. Thậm chí các đoàn địa phương họ vẫn ký được hợp đồng đều đều, vẫn có tiền bồi dưỡng cho anh em.

Tôi cho rằng, thay vì cố làm mọi cách để giành lại thị phần trong thành phố, kịch cứ về các vùng nông thôn, phục vụ tầng lớp bình dân. Nơi đó, người nghệ sỹ vẫn được chào đón, được cổ vũ, được khao khát nhìn ngắm. Đấy cũng là nơi mà khán giả còn có nhu cầu tư duy khi xem kịch, chứ không phải chỉ cần tiếng cười.

- Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này!

Hoàng Hồng (thực hiện)

Đón đọc bài 3: Sân khấu "ế khách': Khán giả nói gì?

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại