‘Hợp xướng chưa phát triển xứng với tiềm năng’
Thứ Hai, ngày 06/09/2010 - 08:08

(Toquoc)-Liên hoan hợp xướng quốc tế Việt Nam lần thứ nhất sẽ diễn ra tại Hội An - Quảng Nam từ ngày 16-20/3/2011. Nhạc sỹ Phạm Hồng Hải – phó Giám đốc Nhà hát Nhạc Vũ Kịch, người “mang” Liên hoan về Việt Nam đã có cuộc trao đổi với Báo điện tử Tổ Quốc xung quanh sự kiện này.

- Liên hoan Hợp xướng quốc tế sắp tới thực chất là một liên hoan không chuyên. Việc Việt Nam đăng cai tổ chức Liên hoan này theo ông sẽ có những cái lợi gì bên cạnh nguồn chi phí tốn kém dành cho nó?

+ Trước hết, vì nó là Liên hoan không chuyên do một tổ chức của CHLB Đức là Interkul sáng lập nên nó mang tính chất của một cuộc vui nhiều hơn là một cuộc thi. Các đoàn hợp xướng tham gia Liên hoan này phải tự túc kinh phí đi lại, ăn ở. BTC Việt Nam chỉ lo kinh phí thuộc nội dung trình diễn trong liên hoan, bố trí xe đưa đón các đoàn, tiền giải thưởng (mang giá trị tinh thần là chính)… Do đó, dù Liên hoan có quy mô rất lớn, song kinh phí tổ chức lại không quá cao.

Còn cái lợi thì nhiều. Bất kỳ một cuộc giao lưu văn hoá quốc tế nào cũng mang lại những lợi ích thiết thực: như giới thiệu quảng bá các giá trị văn hoá Việt Nam ra thế giới, tạo dựng các mối quan hệ, liên kết, trao đổi văn hoá lâu dài. Bên cạnh đó, việc tổ chức Liên hoan tại Hội An cũng góp phần thúc đẩy du lịch miền Trung, quảng bá cho du lịch miền Trung. Và ý nghĩa quan trọng nhất khi chúng tôi nỗ lực đưa Liên hoan này về với Việt Nam tạo ra cú hích thúc đẩy phát triển phong trào hợp xướng trong nước.

Dự kiến ngày 17/9 tới, tại Bộ VHTTDL sẽ có lễ ký kết hợp tác  giữa các đơn vị tổ chức liên hoan. Cách thức, quy trình tổ chức và nguồn kinh phí cụ thể sẽ được công bố.

‘Hợp xướng chưa phát triển xứng với tiềm năng’ - ảnh 1

Hợp xướng trẻ em biểu diễn tại Mỹ

- Điều thường gặp ở các liên hoan quốc tế tại Việt Nam là sự tham gia ít ỏi của các đoàn nước ngoài với những lý do đại loại như: tổ chức gấp gáp quá, chưa kịp quảng bá, các đoàn huỷ lịch tham gia vì có sự cố riêng... Thành ra, gọi là liên hoan quốc tế những sự “xôm tụ” và tính phổ biến không lớn. Chủ nhà Việt Nam có dự trù được điều này hay không?

+ Đó là điều hoàn toàn có thể thông cảm khi hầu hết các liên hoan quốc tế tại Việt Nam trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật đều là lần đầu tiên, còn rất nhiều bỡ ngỡ và chưa chuyên nghiệp. Riêng với Liên hoan hợp xướng quốc tế, trong 20 năm với 20 kỳ liên hoan liên tiếp, chưa năm nào số người tham gia lại dưới con số 1000. Chúng tôi cũng đã gửi thư mời đi khắp nơi ngay từ khi có quyết định chính thức về việc tổ chức cuộc thi này tại Việt Nam. Với 30.000 đoàn hợp xướng thành viên của Interkul, chúng tôi tin là sẽ thu hút được ít nhất từ 15 – 20 đoàn quốc tế. Trong nước cũng khoảng 15 – 20 đoàn.

- Như ông nói, mục đích của Liên hoan là phát triển phong trào hợp xướng trong nước. Điều này có viển vông không khi mà rất nhiều loại hình nghệ thuật khác như sân khấu, nhạc cổ điển… cũng đang tạm phải bó tay dù vô cùng nỗ lực.

+ Hợp xướng có những lợi thế riêng mà các bộ môn nghệ thuật khác không có được. Nó vừa là nghệ thuật hàn lâm, nhưng đồng thời lại là nghệ thuật đại chúng, rất dễ phổ cập và đặc biệt rẻ tiền. Để xây dựng được một dàn nhạc thì vô cùng tốn tiền mua nhạc cụ. Để xây dựng một đội kịch thì chỉ riêng tiền quần áo và phông màn sân khấu, đạo cụ biểu diễn đã ngốn không ít kinh phí. Nhưng với hợp xướng thì chỉ cần tập hợp một nhóm người lại, dựng bè và hát.

Trường học nào cũng có thể làm hợp xướng, nhà máy nào cũng có thể làm hợp xướng, bất kỳ một cơ quan đoàn thể nào cũng có thể dựng đội hợp xướng, chỉ cần có người hát. Ở các nước phương Tây trẻ con đến tuổi biết hát là vào hợp xướng, Chỉ trừ các trường hợp đặc biệt như tật nguyền.

Tiếc là Việt Nam chưa nhận ra được điều này. Do đó trong phong trào văn nghệ quần chúng, hợp xướng vẫn chiếm vị trí quá nhỏ bé so với tiềm năng của nó.

Song tôi tin, khi nó được khuấy động ở quy mô rộng, tình trạng này sẽ thay đổi.

‘Hợp xướng chưa phát triển xứng với tiềm năng’ - ảnh 2

Nhạc sĩ Phạm Hồng Hải chỉ huy dàn hợp xướng trẻ em

- Không chỉ ở phong trào văn nghệ quần chúng, ngay cả các nhà hát – cơ quan hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp – cũng chỉ có Nhà hát Nhạc Vũ Kịch là có Dàn hợp xướng chuyên nghiệp theo nghĩa biểu diễn liên tục và thường xuyên. Đó chắc chắn không phải do chưa nhận thức được, thưa ông?

+ Điều này có hai lý do: một là Hợp xướng của Nhà hát Nhạc Vũ Kịch đã có uy tín nhất định nên khi các đơn vị có nhu cầu thì lại đến Nhà hát ký hợp đồng biểu diễn; hai là một trong những khó khăn của việc phát triển các đoàn Hợp xướng chuyên nghiệp chính là nguồn tác phẩm.

Ngoài những bản hợp xướng khá ít ỏi được sáng tác trong thời kỳ cách mạng, hiếm hoi mới có bản hợp xướng  mới ra đời. Thi thoảng các nhạc sỹ Đặng Hữu Phúc, La Thăng có sáng tác cho hợp xướng song không đều đặn. Dàn hợp xướng Nhà hát gần như quanh năm chỉ hát đi hát lại những bài quen thuộc, chẳng mấy khi mất công tập tành nhiều trước mỗi lần biểu diễn.

Cũng khó trách các nhạc sỹ bởi khi hợp xướng chưa phát triển thì người ta chưa thể chuyên tâm sáng tác cho nó.

- Một trong những giải pháp để thúc đẩy sự phát triển của nghệ thuật hàn lâm là đào tạo khán giả. Các loại hình sân khấu cũng cho rằng, đào tạo khán giả là khâu cốt tử quyết định tương lai của nghệ thuật. Việc ông duy trì hợp xướng trẻ em tại Nhà hát có phải vì mục đích này?

+ Trước hết, lớp hợp xướng dành cho trẻ em của Nhà hát ra đời là do nhu cầu tự thân. Nhiều gia đình khá giả đầu tư cho con đi học hợp xướng để phát triển năng khiếu và quan trọng nhất là giúp các em tự tin, giao tiếp dễ dàng, không ngại thể hiện bản thân chốn đông người. Đó cũng có thể coi là đào tạo các khán giả nhí để hình thành một lớp khán giả trưởng thành có thẩm mỹ nghệ thuật và có nhu cầu thưởng thức nghệ thuật.

Tuy nhiên, tôi không cho rằng, đào tạo khán giả có thể tạo ra một tương lai phát triển cho nghệ thuật. Điều này tôi đã được thực nghiệm. Cách đây vài năm, Quỹ Ford đã rót cho Nhà hát 200.000USD để thực hiện dự án Giới thiệu âm nhạc và múa cổ điển cho học sinh phổ thông. Đã có tới 200.000 học sinh được hưởng thụ chương trình. Ford cũng đánh giá là chưa có dự án nào thành công đến thế, với kết quả khảo sát xã hội học thu được từ những người tham gia vô cùng mỹ mãn.

Nhưng sau đó thì thế nào, các học sinh được tham gia chương trình cũng quên luôn những gì đã được nghe, học trong thời gian ngắn ngủi. 200.000 USD cũng như muối bỏ bể.

Nếu Nhà nước muốn đào tạo khán giả thì phải đào tạo trong một thời gian dài, liên tục và không ngừng nghĩ, đồng nghĩa với việc phải bỏ ra một số tiền vô cùng lớn. Điều đó là bất khả thi trong điều kiện kinh tế của Việt Nam.

Tôi thì cho rằng, vật chất quyết định ý thức. Khi nền kinh tế của nước ta phát triển, trình độ nhận thức và nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của con người cao lên, người ta tự tìm đến với nghệ thuật, tìm đến Nhà hát.

- Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này!

Hoàng Hồng (thực hiện)

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại
PTI

Từ khóa tìm kiếm

Từ khóa tìm kiếm