Ký ức khốc liệt của những cựu tù Phú Quốc
Thứ Ba, ngày 27/04/2010 - 16:21

(Toquoc)- Từ năm 1968- 1975, nhà tù Phú Quốc đã giam giữ tới 40.000 người trong đó hơn 3.000 người đã vĩnh viễn không về.

Những đòn tra tấn dã man của kẻ địch ngỡ chỉ có trong thời Trung cổ: dội nước sôi, dùng que sắt nung đỏ xuyên qua da thịt, đổ xà phòng sôi vào miệng, đóng đinh vào chân, tay, cưa chân, tay, chôn sống… ngày ngày diễn ra tại nơi “địa ngục trần gian” nhà tù Phú Quốc. Và người hứng chịu là những chiến sĩ Giải phóng tuổi ngoài đôi mươi, sa vào tay giặc. Nếm đủ những đòn tra tấn dã man nhưng ý chí kiên trung của họ thì không đòn roi nào khuất phục được.

Ký ức khốc liệt của những cựu tù Phú Quốc - ảnh 1

Nhà tù Phú Quốc, nơi được mệnh danh là "địa ngục trần gian"

35 năm đã qua kể từ ngày đất nước được thống nhất, những người lính- giờ người còn, người mất- nhưng những năm tháng nếm trải mọi đòn roi trong nhà tù của kẻ thù và chứng kiến sự hy sinh của đồng đội vẫn mãi mãi khắc một vết đậm trong ký ức của những cựu tù năm xưa. Trong dịp kỷ niệm 35 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, các cựu tù binh Phú Quốc đã chia sẻ với chúng tôi những ký ức không thể nào quên.

Những vết thương chưa thôi nhức nhối

 Ký ức khốc liệt của những cựu tù Phú Quốc - ảnh 2

Ông Lâm Văn Bảng

Ông Lâm Văn Bảng (Phú Xuyên, Hà Nội) là một trong những người cựu tù được chứng kiến nhiều đòn  tra tấn dã man của kẻ thù với đồng đội. Đến nay, ông và 25 cựu tù khác đã lập một bảo tàng để lưu giữ những chứng tích chiến tranh từ bạn bè, đồng đội mình: “Bảo tàng chiến sĩ cách mạng bị địch bắt và tù đày”. Ông kể:

Tôi bị bắt và giam giữ tại nhà tù Phú Quốc. Hồi đó tôi bị vết thương ở chân nhưng không được chữa chạy, suốt 4 năm ở đó tôi phải mang những vết thương lở loét. Thỉnh thoảng những miếng xương trong vết thương ở chân lại đùn ra. Tôi lại lấy miếng vải mà băng vào, mỗi lần ra đến cổng thằng cai ngục lại dùng cái gậy chọc vào đấy để điểm danh. Có những đợt tôi phải phơi nắng, mặc quần đùi, cởi trần. Mỗi lần phơi nắng là tróc hết cả da, cái nắng và gió biển tạt bụi, cát, nhét vào những chỗ da bong tróc ra rất đau đớn.

Nhưng những trận đòn tra tấn với tôi chưa là gì so với những đồng đội của tôi, như anh Tằng bị chúng dùng một gậy gỗ đánh vào miệng gẫy một lúc 9 chiếc răng và bắt nuốt vào bụng, những cái răng đó hiện đang được lưu giữ tại bảo tàng của tôi.

Rồi anh Lương Đình Kỳ, bị giặc đóng đinh vào đầu cho đến chết. Khi chúng tôi khai quật, bốc hài cốt anh lên cái đinh vẫn găm vào đầu. Anh Xô (Tiên Du, Bắc Ninh) bị chúng trói đút vào bao tải, mỗi lần tra tấn chúng múc nước sôi dội vào đầu. Hay anh Dương Bá Ngải, được chúng tôi bầu là Bí thư chi bộ trong nhà tù. Bọn chúng phát hiện, lôi anh ra đánh, bắt anh khai không được, nó đánh anh chết ngất đi và khi anh tỉnh dậy, chúng đun nước xà phòng sôi dội vào miệng anh đến chết...

Hình ảnh đồng đội bị địch tra tấn dã man vẫn cứ ẩn hiện trong từng giấc mơ của tôi cũng như những vết thương trên cơ thể mỗi lần trái gió lại nhức nhối. Nhưng trăn trở đeo đẳng người tù năm xưa như tôi về những đồng đội đã hy sinh nằm lại chốn lao tù nơi đảo xa đã giúp chúng tôi lập nên Bảo tàng những chiến sĩ cách mạng bị tù đày. Nơi đây đã và đang lưu giữ hơn 2000 kỷ vật vô giá, là những bằng chứng tố cáo tội ác dã man của kẻ thù, và cũng thể hiện lòng kiên trung, bất khuất và tinh thần đầu tranh cách mạng của các chiến sĩ bị địch bắt tù đày, lòng trung thành với đảng và nhà nước. Chúng tôi mong rằng qua nơi đây sẽ là nơi thắp sáng niềm tin, giữ lửa và truyền lửa yêu nước, lửa cách mạng cho thể hệ trẻ.

Chuyện của người lính mất một lúc 10 cái răng

 Ký ức khốc liệt của những cựu tù Phú Quốc - ảnh 3

Ông Lê Hữu Sừ

Ông Lê Hữu Sừ, sinh năm 1946 nay sống tại Hà Đông (Hà Nội) nhớ lại:

Tôi nhập ngũ năm 1965, đến năm 1968 bị địch bắt, chúng nhốt tôi và một số chiến sĩ khác ở Pleiku, đến 1969 đưa ra đảo Phú Quốc. Hồi đó, trại giam Phú Quốc mới chỉ có nhà giam A1, sau lập biệt giam A2 và nhiều khu giam giữ khác. Tôi bị giam ở nhà A2, anh em chiến sĩ cách mạng bị địch bắt đều rất đoàn kết, kiên trung với Đảng, ngày đêm nghĩ cách trốn thoát.

Thế rồi chúng tôi nghĩ chỉ có cách đào hầm mới trốn thoát được, hồi đó có thuận lợi là bọn giám thị trại giam lập phòng bệnh Lao. Lợi dụng tâm lý sợ lây bệnh của bọn chúng, chúng tôi lấy gạch non, mài ra rồi trộn lẫn với đờm, đổ lên nắp hầm để ngụy trang, tránh cho chúng không vào kiểm tra và thăm nền nhà bằng que sắt.

Thời đó, anh em chúng tôi chỉ có cách đào duy nhất là dùng cái cà-mèn đựng cơm bằng sắt, đào một lỗ xuống nền nhà. Bên dưới là cát nên cũng dễ, càng đào càng rộng, chúng tôi lấy thùng rác (là chiếc phi 400 lít đã được chặt đôi ra và làm hai quai) để xách. Cát đào được đến đâu, chúng tôi lấy cà mèn ép cát chặt vào hai bên vách hầm đến đó. Hàng ngày chúng tôi bắt đầu đào từ lúc 7h tối (sau khi điểm danh xong) đến 1-2h sáng, chui lên, tắm giặt và ngủ đến sáng như bình thường. Sau một năm, 200 chiếc cà-mèn bị ép thủng cũng là lúc đường hầm dài 40m đã hoàn thành. Sau đó, chúng tôi tổ chức cho những đồng chí sĩ quan, lãnh đạo đầu tiên thoát ra. 18 đồng chí đầu tiên của nhà tù Phú Quốc đã ra ngoài trót lọt, dự tính hôm sau cả trung đoàn sẽ ra tiếp. Nhưng sáng hôm sau không may hầm bị lộ, chúng lại kiểm tra thấy mất 18 đồng chí địch và bắt đầu lôi chúng tôi ra tra khảo, đánh đập. Đây là cuộc trốn thoát đầu tiên thành công nên chúng càng lồng lộn, chúng đánh rất dã man. Tôi và rất đông các chiến sĩ khác bị chúng tra tấn bằng cách dùng cái cù- hèo bằng dễ tre, khắc đầu con chó mà đánh vào các khớp tay, chân.

Dã man nhất là chúng dùng đinh, búa, kìm kẹp, dùi nung nóng xiên vào thịt, thậm chí cưa sống hai chân của một đồng chí. Trời nóng đến 39 0 C chúng bắt anh em ta trèo lên mái tôn, đắp 2-3 chăn để phơi nắng... Mỗi ngày trung bình mỗi người chịu 3- 4 trận tra tấn, như tôi bị chúng đánh gẫy một lúc hơn 10 cái răng...

Nhưng những đòn roi của kẻ thù không lấy được nửa lời của những người lính chúng tôi.

Năm 1973, theo quyết định trao trả của hiệp định Paris, tôi phục viên trở về Bắc, mang hàm thiếu úy và bị nhiễm chất độc da cam. 35 năm thống nhất đất nước, tôi đã có dịp trở lại nhà tù Phú Quốc, trại A4 vẫn còn, những khu khác cũng thay đổi theo thời gian, riêng địa điểm ngày xưa chúng tôi đào hầm vẫn còn và được giữ lại hầu như nguyên vẹn.

Trong tù cũng không ngừng đấu tranh

 Ký ức khốc liệt của những cựu tù Phú Quốc - ảnh 4

Ông Nguyễn Trọng Dư

Người lính Nguyễn Trọng Dư (Thụy Khuê, Hà Nội) ngày đó có đỡ bị tra tấn hơn đồng đội, nhưng ông cũng không quên được những ký ức khốc liệt năm nào.

Tôi nhập ngũ năm 1968 nhập ngũ, tham gia được 9 trận ở Việt Nam, trận thứ 10 sang Campuchia, tôi bị thương vào đùi, không chạy được nên xe tăng địch bắt, giam ở khu căn cứ Đồng Dù, sau khi vết thương lành địch đưa tôi về Biên Hòa, đủ một chuyến máy bay thì chúng đưa tôi và đồng đội ra đảo Phú Quốc từ tháng 10/1970, đến năm 1973 thì được trao trả theo hiệp định Paris, qua sông Thạch Hãn và trở về Miền Bắc.

Thời gian bị tù đày ở Phú Quốc những năm 1970 tôi không chịu cảnh dã man như những năm 1968- 1969. Khi mới bị bắt, chúng giam tôi ở Biên Hòa, bọn lính Mỹ hỏi gì tôi khai nấy, rất đầy đủ nhưng là khai láo hết, khi về tay của Ngụy, chúng hỏi lại tôi cũng trả lời như thế nhưng bọn nó bảo “Với quân lính Mỹ mày có thể khai như thế được, nhưng bọn tao thì khác. Mày đã khai sai, tao sẽ nhốt mày trong xà lim một tuần, nếu mày tiếp tục khai sai tao bắn...”.

Đến ngày thứ 7, thấy chúng mở cửa đưa ra, tôi cứ đinh ninh rằng tôi bị đưa đi bắn nhưng không ngờ chúng lại chuyển ra đảo Phú Quốc. Hồi đó, ở khu trại giam của chúng tôi cứ 3 tháng chúng chuyển tù binh từ trại này sang trại khác, để tránh đào hầm trốn thoát. Không chỉ có vậy, chúng bắt một số anh em đưa ra ngoài để thủ tiêu, không rõ lý do...

Chúng tôi đấu tranh tuyệt thực đòi phải đưa các anh em trở lại, đòi không được tra tấn tù nhân, không được bắt tù nhân vô cớ... Hồi đó, anh em tin tưởng phân công tôi vào đội cảm tử, sẵn sàng hy sinh khi Tổ quốc cần. Nhớ nhất là lần chúng tôi tổ chức cho 4 đồng chí vượt ngục, sắp xếp để 4 người ngồi trong thùng rác, thùng rác hồi đó là thùng phi cưa làm đôi, đủ chỗ cho 1 người ngồi vào giữa, tôi là 1 trong 8 người khiêng, chúng tôi xác định nếu lộ sẽ xông lại cướp súng và bắn. May hôm đó không bị lộ nên 4 đồng chí ra ngoài được, nhưng sau đó 2 đồng chí đã bị bọn địch bắn chết, 2 đồng chí bị bắt lại. Còn 8 người khiêng thì an toàn, chúng tôi sắp xếp khiêng ra không để lộ, chúng tôi đã chống sẵn hàng rào, tạo chứng cớ giả để anh em khiêng rác không bị tra tấn. Về sau tôi được biết, theo tổng kết thời Mỹ Nguỵ, tại nhà tù Phú Quốc có 42 vụ vượt ngục, trong đó có 16 vụ vượt rào, 15 lần đi riêng lẻ, 7 cuộc đánh quân cảnh, 4 lần đào hầm. Hơn 400 người ra đi nhưng chỉ có 239 người về được căn cứ kháng chiến.

Nghe những câu chuyện và mường tượng những đòn roi của kẻ thù với những người lính Giải phóng năm nào chúng tôi không khỏi cảm giác rùng mình. Nhưng điều làm chúng tôi khâm phục là những người chịu đòn roi khốc liệt ấy đang đứng trước chúng tôi, nhỏ bé và bằng xương bằng thịt. Chúng tôi thầm hỏi, sức mạnh nào đã giúp họ vượt lên như thế, để hôm nay, trở thành nhân chứng sống kể cho chúng tôi cả một thời hào hùng của lịch sử dân tộc. Phải chăng, đó chính là sức mạnh của cả dân tộc, sức mạnh của khát vọng độc lập, tự do và thống nhất đất nước của những con người chính nghĩa.

Nhà tù Phú Quốc là trại giam tù binh trung tâm toàn Việt Nam Cộng hòa, từng giam giữ hơn 32.000 tù binh (40.000 tù nhân nếu tính cả tù chính trị nhiều thời kỳ). Trong chiến tranh chống Mỹ tù binh chiến tranh tại nhà tù Phú Quốc đã phải chịu những hình phạt, tra tấn như đóng đinh vào tay, chân, đầu; đốt dây kẽm cháy đỏ đâm vào da thịt, đục răng, trùm bao bố đổ nước sôi hoặc đổ lửa than, ném vào chảo nước sôi, thiêu sống, chôn sống...Trong thời gian tồn tại không đầy 6 năm (từ tháng 6/1967 đến 3/1973) trại giam tù binh Phú Quốc, có hơn 4.000 người chết, hàng chục ngàn người bị thương tật tàn phế. Hiện tại Phú Quốc đã quy tụ được hơn 2000 hài cốt liệt sĩ trong số hơn 4000 liệt sĩ hy sinh tại đây.

Hà An (ghi)

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại
PTI

Từ khóa tìm kiếm

Từ khóa tìm kiếm