Lễ Giỗ Tổ: Sự thật hoà quyện cùng huyền thoại
Thứ Tư, ngày 14/04/2010 - 07:39

 (Toquoc)- Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương được ghi nhận có từ hơn 1000 năm trước, từ thời Vua Lê Đại Hành. Trải ngàn năm lịch sử, lễ Giỗ Tổ có gì mới, còn giữ những nét truyền thống ra sao? Nhân Quốc giỗ 2010, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với nhà nghiên cứu về Đền Hùng Vũ Kim Biên để phần nào làm sáng tỏ vấn đề này.

Sự thật và huyền thoại

+ Thưa ông, lịch sử dân tộc ghi nhận 4000 năm hình thành và phát triển. Với truyền thống đạo lý uống nước nhớ nguồn, ông có thể cho biết vị trí và vai trò của lễ giỗ Tổ Hùng Vương trong đời sống từ xưa đến nay?

- Vua Hùng là người có công khai phá nền văn minh trồng lúa nước. Lúa nước làm nền tảng cho các nghề thủ công, phát triển rực rỡ nhất. Chế độ chính trị tiến bộ. Ruộng công tồn tại suốt từ thời Hùng Vương đến bây giờ, thành viên làng xã bình đẳng, công chống ngoại xâm, mở quan hệ ngoại giao, cho sứ đi lại, thân thiện với bốn phương. Thời kỳ ấy, dân ta sống no ấm, yên vui nên lễ hội nhiều. Sử sách còn ghi lại những điều này.

Lễ Giỗ Tổ: Sự thật hoà quyện cùng huyền thoại - ảnh 1

Nhà nghiên cứu về Đền Hùng Vũ Kim Biên

Truyền thống thờ phụng tổ tiên là truyền thống nổi bật nhất của dân tộc ta. Dân tộc ta đa tín ngưỡng nhưng thiêng liêng nhất là tổ tiên. Trong gia đình người ta thờ những vị gia tiên, trong cộng đồng dân tộc thờ những vị có công với nước đặc biệt là thờ các vị tướng lĩnh ngoại xâm. Do hoàn cảnh mỗi làng giàu có hay có hoàn cảnh khó khăn, thậm chí có những làng làm linh đình hoặc to lớn hơn, mang tính chất bao quát nhất, tâm hồn hướng về cội nguồn xa xôi nhất.

Đặc biệt, thờ Vua Hùng và các tướng lĩnh thời Hùng Vương tất cả các tỉnh cộng lại các điểm thời được xây từ thời phong kiến đã thống kê có gần 2000 điểm thờ, riêng Phú Thọ có gần 200 điểm. Riêng ở Đền Hùng thờ 18 đền Vua Hùng, từ cụ tổ Kinh Dương Vương đến đời cuối cùng là Hùng Duệ Vương.

Từ xưa, cách đây hàng nghìn năm, người ta đã nói đến Đền Hùng. Bản Ngọc phả từ đời vua Lê Đại Hành. Bản Ngọc phả ở Đền Hùng hiện nay là sao chép đời vua Lê Anh Tông. Sau đó, đời Trần, đời hậu Lê cũng có những Ngọc phả chép lại. Điều đó chứng tỏ cả một quá trình dài biên soạn bản Ngọc phả. Đó là những căn cứ cho ta nghiên cứu về Đền Hùng và là gốc để đồng bào cảm nhận văn hoá và bề dày linh thiêng của dân tộc.

+ Truyền thuyết Lạc Long Quân, Âu Cơ có gắn gì với lịch sử dân tộc không, thưa ông?

- Truyền thuyết vẫn là truyền thuyết, là huyền thoại, không phải là sự thật nhưng vẫn lý giải cho sự thật. Bọc trăm trứng là truyền thuyết gắn với núi Nghĩa Lĩnh. Lạc Long Quân gặp Âu Cơ ở bờ sông Đà, gặp nhau, đẻ ra bọc trăm trứng, nở trăm con, lý giải cho tộc người bách Việt. Thời đó, có hàng trăm bộ lạc người Việt. Truyền thuyết này để người ta nhớ đến nguồn gốc xa xưa của dân tộc Việt Nam. Cụ Lạc Long Quân có liên quan đến lịch sử dân tộc, đến văn minh lúa nước. Để hiểu được việc đó phải tìm hiểu gián tiếp, thông qua việc thờ hạt lúa, thờ thần nông. Thần nông từ nghề làm lúa chiêm mà ra, lúa chiêm mẫn cảm với thời tiết, người ta có kinh nghiệm đêm rằm tháng Tám nhìn hình ông thần nông hiện ra (những ngôi sao xếp lại hình người đội nón), nếu hình rõ thì được mùa, mờ thì mất mùa. Nên người dân lập đàn thờ. Bằng chứng là chúng ta có được hạt thóc từ di chỉ văn hoá Hùng Vương, cách đây 3000 năm. Người ta dự đoán do thóc lúa dư thừa, được mùa, vẫn chưa sử dụng hết. Có những nắm thóc qua mấy ngàn năm thành cục than, hoá thạch.

Lễ Giỗ Tổ: Sự thật hoà quyện cùng huyền thoại - ảnh 2

Đền thờ Lạc Long Quân- một trong những điểm tham quan mới của khu di tích lịch sử Đền Hùng

Từ văn minh lúa nước này mới lần hồi về trước, truyền thuyết có nói về Lạc Long Quan và Âu Cơ dạy dân trồng lúa, trồng dâu, dệt vải. Một mặt truyền thuyết, một mặt khảo cổ thì gắn lại hiểu là như thế. Đền Hùng thờ chính là thờ các vị thuỷ tổ của nghề làm lúa nước, ngoài tam lý thờ tổ tiên là thờ nghề trồng lúa nước, trước Đền Thượng là thờ hạt lúa thần- đục bằng gỗ, theo các cụ ở xã Hy Cương thì năm 1949 Pháp vào chiếm cao điểm đã lấy mất. Ngày xưa nữa còn nói hạt lúa bằng đá nhưng tôi cũng không được thấy. Cho đến năm 2005, xã Hy Cương làm lễ Giỗ Tổ vẫn rước hạt lúa bằng gỗ.

Bất biến giữa dòng chảy lịch sử

+ Là một người nghiên cứu về Đền Hùng, ông nhận thấy Lễ hội Đền Hùng, lễ Giỗ Tổ có những biến chuyển gì qua thời gian không, thưa ông?

- Lễ hội đền Hùng trải qua nhiều giai đoạn, thời phong kiến từ thời vua Quang Trung giao cho xã Hy Cương chịu trách nhiệm trông coi, cúng bái, nhà nước ưu tiên không phải đóng thuế 500 mẫu ruộng, không phải nộp sưu thuế, đi phu đi lính. Ngày 1/3 rước long báu về tế xong thì rước trả lên. Đồng bào xa gần nhớ ngày giỗ tổ về lễ bái, tụ hội, đông vui, các hàng hoá ăn uống chủ yếu mua bán với nhau. Đấy là thời nhà Lê đổ về trước.

Sang thời nhà Nguyễn, trước vua Minh Mệnh cho rước bài vị của  các Vua Hùng vào Huế thờ ở đền thờ Lịch Đại đế vương, thời Tự Đức cho sửa lại, giỗ theo kiểu Xuân Thu nhị kỳ. Sau thay bằng Giỗ Tổ vào ngày 10/3. Dùng lễ phẩm bò, dê lợn, triều đình bỏ tiền ra mua 25 mẫu ruộng, phát canh, thu tô để lấy tiền chi. Triều đình chi 100 đồng bạc trắng làm cỗ Thái lao. Vua gửi về 3 đấu gạo nếp thơm làm xôi cúng (gọi là Nhà vua góp giỗ). Thời phong kiến bắt đầu từ thời nhà Nguyễn, dân vẫn theo lệ cổ 10/3, tế Đền Thượng từ đó mà ra.

Từ năm 1974, tôi được Ty Văn hoá Vĩnh Phú cử đi nghiên cứu, sưu tầm các tài liệu về Đền Hùng, tôi có điều kiện đi hỏi các cụ già, các làng, dân sở tại, các cụ nói ngày xưa có rước kiệu, tế, hát Xoan tại Đền Thượng. Hát Xoan có nguồn gốc từ thời Hùng Vương, sau được các vị có vị thế trong xã hội nâng đỡ, lưu truyền, rồi từ thế kỷ 15 cải tiến, không còn là hát tế nữa mà là có tính giao duyên, dân dã, hát rất hay.

Lễ Giỗ Tổ diễn ra đều đặn nhưng có khoảng những năm 1947- 1954 không làm được nhưng người dân địa phương vẫn làm.

Sau cách mạng tháng Tám, năm 1946 làm Giỗ Tổ, cụ Huỳnh Thúc Kháng, Phó Chủ tịch nước lên lễ. Tôi sưu tầm được tư liệu về việc này chứ không có văn bản để lại. Rằng cụ Kháng dâng bản đồ và kiếm, cáo với Tổ là có hoạ xâm lăng và quyết tâm giữ nước của dân tộc.

Sau hoà bình lập lại, năm 1956 làm lễ lớn, năm ấy đông vui lắm, nhiều tiết mục văn nghệ, nhiều các làng khác và có cả anh hùng Nguyễn Thị Chiêm về dự. Năm 1956 có rước kiệu, dân rất thích. Từ 1956 trở đi không rước kiệu, Giỗ Tổ lúc ấy cũng vì điều kiện kinh tế, nhất là thời kỳ chống Mỹ khó khăn, nên đơn giản, không phải không đông vui nhưng nghi thức đơn giản. Có đoàn thiếu nhi của xã Hy cương đánh trống cà rình đi trước, đoàn đại biểu có phó chủ tịch xã Hy Cương mang một bó hoa lên dâng lên, quần áo có thế nào mặc thế, không bắt phải mặc đồ lễ. Cách làm đó kéo dài cho đến năm đổi mới, có điều kiện và nền kinh tế phát triển, người ta mới ngộ ra việc quan trọng và hướng tới cách làm bài bản hơn.

Từ năm 1990 về sau có cải tiến hơn, lại cho rước kiệu, Sở Văn hoá đưa tiền cho mấy làng rước kiệu lên, lúc đầu chỉ có tỉnh Phú Thọ, sau rồi Trung ương cũng về, dâng hương, hoa và làm đồng chủ lễ, chủ tịch tỉnh làm chủ lễ.

Riêng về hội càng ngày càng đông, năm 1990 đã lên tới 50 vạn người, năm 2005- năm Quốc giỗ đầu tiên ước lượng gần 2 triệu người. Như thế để thấy, càng ngày, người dân hướng về Đất Tổ, về cội nguồn dân tộc càng nhiều hơn.

Có cần một Đền Hùng lớn hơn?

+ Địa hình và vị thế của Đền Hùng theo nghiên cứu của ông có ý nghĩa thế nào, thưa ông?

- Địa thế của núi Nghĩa lĩnh, theo thuyết nó là Đầu Rồng, nhìn về hướng nam, là mạch thiêng, long mạch của đất nước. Khúc trước vặn, khúc sau uốn. Từ xưa tới nay đều được lưu truyền là đất thiêng. Đền Thượng ngày xưa là vua lập để thờ trời: Kính Thiên lĩnh điện (miếu Thờ Trời). Tính từ thời vua Hùng thứ VI đến nay là hơn 3000 năm. Thời đó vua xây điện khi thắng giặc Ân.

Sau khi Thục Phán được Vua Hùng nhường ngôi thì mới làm đền thờ Vua Hùng. Còn trước đó ở đây chỉ có điện do Vua Hùng xây để thờ trời.

Tôi cho rằng, sau này cũng nên bàn lại về các nhân vật, chúng ta bỏ qua nhiều thời kỳ, chỉ có lịch sử thời phong kiến tự chủ mà không có lịch sử thời trước đó. Ví dụ như thời An Dương Vương không có nhiều sử liệu.

Lễ Giỗ Tổ: Sự thật hoà quyện cùng huyền thoại - ảnh 3

Lễ Giỗ tổ mỗi năm một đông vui hơn

+ Có những ý kiến rằng, Đền Hùng- biểu tượng của đất nước, cũng như nhiều biểu tượng của đất nước chúng ta quá nhỏ. Từ đó, có những ý kiến cho rằng cần mở rộng hơn, làm cho Đền Hùng lớn hơn, ông nghĩ sao về vấn đề này?

- Vấn đề Đền to hay nhỏ, tôi đã nói nhiều. Các đền đài của thời nhà Lê, nhà Nguyễn để lại rất có giá trị. Đó là nhân chứng cho sự thờ tự lâu đời ở ngọn núi ấy, như là một gạch nối, nối cái bây giờ với xa xôi trước nữa, thể hiện văn hoá, tôn giáo của tổ tiên ta. Rõ ràng đến những đền cổ xưa, có cái gì đó hoài cổ, nhớ về thời xa xưa. Từ đó xâu chuỗi lại ông cha ta làm như thế không có nghĩa là thời ấy chúng ta không thể làm được to mà là chúng ta không muốn làm to. Khuê Văn Các không to. Với Núi Nghĩa Lĩnh như thế mà cơ cấu được 3 tầng: Thượng, Trung, Hạ là rất hợp lý, vừa khéo với khung trời, vừa hài hoà với cảnh quan.

Nhiều người có nói, xây bây giờ thì 200 năm nữa cũng sẽ là đồ cổ, nhưng thử tính nếu là trống đồng Ngọc Lũ thật thì cả tỉ đô la cũng không ai dám bán, còn trống đồng bắt chước theo, bán được bao nhiêu?

+ Vậy, theo ông, cần làm gì để khu di tích Đền Hùng có thể trở thành điểm du lịch hấp dẫn, bên cạnh du lịch tâm linh?

- Ngày 25/1/2009, tại Hội nghị giới trí thức tiêu biểu của tỉnh, tôi đã đề nghị giữ kiến trúc tiêu biểu của Đền Hùng thời Lê Nguyễn. Nhưng hiện chỉ còn được Đền Trung và Hạ, còn Đền thượng là mới mất rồi.

Hiện tại, nếu muốn thể hiện tấm lòng của con cháu với Vua Hùng thì tập trung làm Tháp Hùng Vương và khu tưởng niệm Bác Hồ về với Đền Hùng, làm công trình kỷ niệm sao cho xứng đáng. Mở ra khu văn hoá mới, khu di tích mới cho đền Hùng, còn không nên động chạm tới núi Nghĩa Lĩnh, chỉ hỏng đâu sửa đấy thôi.

+ Xin cám ơn ông về cuộc trao đổi thú vị này!

Hà An (thực hiện)

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại
PTI

Từ khóa tìm kiếm

Từ khóa tìm kiếm