Vĩnh biệt nghệ sỹ nhân dân Đình Quang
13-07-2015 10:03

Giáo sư, Nghệ sĩ Nhân dân Đình Quang, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa- Thông tin, cây đại thụ của sân khấu Việt, qua đời đêm 12/7, hưởng thọ 87 tuổi.

GS.NSND Nguyễn Đình Quang, sinh năm 1928 tại Hà Nội. Ông nhập ngũ và tham gia kháng chiến chống Pháp, trở thành diễn viên trong quân đội. Sau kháng chiến, ông được cử sang học đạo diễn tại Trung Quốc, rồi tu nghiệp và nhận bằng tiến sĩ ở Đại học Humboldt (Berlin, Đức).Với học thức và những đóng góp lớn cho nền nghệ thuật sân khấu Việt Nam, NSND Đình Quang nhận học hàm Giáo sư năm 1984, nhận danh hiệu NSND năm 1993, được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2007.

Vĩnh biệt nghệ sỹ nhân dân Đình Quang - ảnh 1

GS.NSND Đình Quang

Trong sự nghiệp của mình, GS.NSND Đình Quang thuộc thế hệ đạo diễn sân khấu đầu tiên của Việt Nam. Ông từng là thầy của nhiều đạo diễn, diễn viên nổi tiếng. Ông là người sáng lập và là hiệu trưởngcủa trường Nghệ thuật Sân khấu Việt Nam (sau sáp nhập với trường Nghệ thuật Điện Ảnh thành Đại học Sân khấu- Điện ảnh). Ông cũng có nhiều đóng góp cho công tác phê bình lí luận sân khấu cũng như văn hóa ở Việt Nam.

Trong công tác lãnh đạo, ông từng giữ các chức Ủy viên Thường trực Ban Chấp hành Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam. Ông là Thứ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) từ năm 1984 tới 1993.

Sau khi nghỉ hưu, ông vẫn luôn dành sự quan tâm đặc biệt với bạn bè trong giới, và tham gia các Hội thảo, tọa đàm về văn hóa.

Vĩnh biệt cây đại thụ của nền sân khấu, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu lại bài tham luận của ông trong Hội thảo “Quản lý chất lượng sản phẩm văn hoá qua công tác xây dựng tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật”do Trung tâm Công nghệ thông tin và Báo Điện tử Tổ Quốc tổ chức như một lần nhắc nhớ về một Lãnh đạo, một nghệ sĩ tài năng đã hết lòng quan tâm tới sự nghiệp phát triển văn hóa nước nhà.

  

Luận bàn về Văn hóa: Chất lượng văn hóa và nhu cầu hưởng thụ văn hóa

GS.NSND Đình Quang

 

Tuy không chuyên nghiên cứu về vấn đề “chất lượng sản phẩm văn hoá qua công tác xây dựng tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật” nhưng tôi cũng xin mạo muội gửi đến Hội thảo một số ý kiến theo cảm nghĩ của một người làm nghệ thuật.

Trước hết chúng ta cần xác định:Văn hóa là một yếu tố không thể thiểu trong cuộc sống của chúng ta.Chính nhờ có văn hóa mà chúng ta đã thoát khỏi cái thiên nhiên thứnhất, thiên nhiên nguyên thủy hoang dã, để tạo dựng cho mình một thiênnhiên thứ hai, có thể nuôi dưỡng chúng ta một cách đầy đủ hơn,an toàn hơn và đẹp đẽ hơn.

Chính nhờ văn hóa mà chúng ta đã tự tạo lại mình,từ một động vật sống theo bản năng thành một sinh vật có trí tuệ, từ “Con” mà thành “Người”, mà theo Gorki, nguyên chỉ danh từ ấy thôi cũng đã đủ vang lên một cách đầy kiêu hãnh.

Nhưng trái đất này,cũng như bản thân chúng ta còn chưa đi hết chặng đường của mình, bao lâu trái đất và bản thânchúng ta còn tiếp tục tồn tại thì bấy lâu chúng ta cũng còn cần nương tựa vào sự phát triển văn hóa, để trái đất này đáng sống hơn và bản thân chúng ta cũng xứng đáng với danh hiệu “con người” hơn.

Như thế, hiển nhiên văn hóa là một nhu cầu tất yếu không thể thiếu nếu trái đất và bản thân chúng ta còn muốn tiếp tục tồn tại. Và để xử lý nhu cầu tất yếu này một cách hợp lý, trước hết chúng ta cần nhận thức thỏa đángtính chất của nhu cầu văn hóa.Đó là tính chất tương đối của nó. 

1/Theo các nhà khoa học, trước hết không thể xác định một cáchtùy tiện nhu cầu văn hóa,loại hình văn hóa nào là cần, loại nào là không cần, sản phẩm văn hóa nào là thiết yếu,sản phẩm nào là thừa, thời điểmnào là cần, thời gian nào là không nhất thiết cần phải có… bởi vì nó tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế, xã hội, vào tập tính và trình độ văn hóa của một không gianđất nước cụ thể, một thời điểm lịch sử cụ thể mà ở đó con người sinh sống.

Hãy thử nghĩ xem, nhu cầu thông tin bao giờ mà chả cần thiết, nỗi nhớ có bao giờ không day dứt, nhưng vì hoàn cảnh chính trị và điều kiện kỹ thuật, chúng ta đã đành chịu ngày Bắc đêm Nam đằng đẵng bao nhiêu năm. Còn bây giờ, chỉ cần hai tiếng bay đã có thể gặp bạn trong thành phố Hồ Chí Minh và rủ nhau đi nâng lên đặt xuống…Chồng bà bán đồng nát cũng thường dặn vợ đi ra khỏi nhà đừng quên mang theo điện thoại di động để còn biết đang lần mò ở đâu mà tìm ....chiếc đài Orionton nặng nề và quý hóa một thời, giờ có biếu khôngcũng chưa chắc đã có ai muốn nhận..Tivi đen trắng lúc này mấy ai thèm xem… số lượng hàng chục kênh truyền hình vẫn còn bị chê là ít v.v… và v.v... 

2/ Như vậy đứng trên góc độ của nhà quản lý văn hóa khi xác định nhu cầu văn hóa, cân nhắc loại hình, và sản phẩm văn hóa, không thể ấn định một cách chung chung mà không thèm xét đến các yếu tố khoa học kỹ thuật, môi trường, thời điểm, thói quen thưởng thức của từng vùng, miền, từng địa phương… như đã nói trên.

Yêu cầu xác định tính chung cả nướctính riêng của từng địaphương này, trong hoàn cảnh nước ta lại là hết sức cần thiết. Bởi vì đất nước ta dài, xuôi ngược rất khác biệt, lại bị chia cắt khá lâu năm với những thể chế và những điều kiện kinh tế kỹ thuật, tập tính hưởng thụ khác nhau và chênh lệch.

Chỉ nói riêng về những loại hình văn hóa do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ta phụ trách, rõ ràng cũng có sự khác biệt về tập tính thụ cảm giữa các vùng miền. Phải chăng có miền thiên về văn hóa nghe nhìn hơn, có miền chuộng văn hóa đọc hơn. Miền núi thiên về dân ca dân vũ, trường ca đoản thi hơn. Văn học tiểu thuyết, tranh giá vẽ,tân nhạc và nhạc không lời phát triển ở miền xuôi hơn, số lượng đoàn Kịch nói phía Bắc phát triển nhiều hơn phía Nam. Cải lương ra đời ở miền Nam nhưng lại đã nhanh chóng lan ra cả nước, ngược lại Chèo cổ hàng ngàn năm cho tới nay vẫn không thể bắt rễ vào miền Nam mà chỉ có những cuộc lưu diễn chủ yếu cho khán giả người Bắc di cư…

Thời điểm cũng là một yếu tố không thể coi thường,Nếu trước thống nhất toàn quốc, cải lương là loại hình vua trên sân khấu phía Nam, kịch nói chỉ lác đác trên một vài sàn diễn thì hiện nay kịch nói lại đang chiếm lĩnh thị trườngv.v…

Do đó, nếu chỉ có quy hoạch bao quát mà xem nhẹ quy hoạch cụ thể cho từng vùng miền, từng địa bàn thì hậu quả sẽ không tương xứng với công sức bỏ ra.

3/ Ngoài tính tương đối của nhu cầucũng cần phân biệt sự khác nhau giữa nhu cầu vật chất và nhu cầu văn hóa.

Nhu cầu vật chất như đói cần ăn, khát cần uống, lạnh cần mặc ấm, nóng cần quạt… đó là nhu cầu bẩm sinh của cơ thể và chúng thỏa mãn mặt sinh học của cơ thể, mang tính vật chất. Sự lão luyện tinh thông trong việc đáp ứng nhu cầu vật chất, chẳng hạn như giỏi phận biệt mùi hương, vị rượu… là nhờ ở sự nhậy cảm và khả năng phân biệt của các giác quan.

Nhu cầu văn hóa, trái lại đáp ứng cho nhu cầu nhận thức, trí tuệ và cảm xúc thẩm mỹ. Sự tinh thông ở đây không thể chỉ nương tựa vào sự tinh luyện của giác quan mà là ở sự cao thấp, sâu nông của trình độ cảm thụ và nhận thức.

Trong ngôn ngữ thường nhật, đôi khi người ta vẫn thường gọi là nghệthuật ẩm thực, nghệ thuật pha chế, may đo… nhưng từ nghệ thuật ở đâychỉ có ý chỉ về sự tinh luyện của giác quan, khéo léo thủ công… chúng không buộc phải mang tính hình tượng, một loại ngôn ngữ thuộc tính của văn hóa, nghệ thuật, và cũng không chứa đựng một nội dung xã hội cụ thể nhất định nào. 

4/ Chúng ta cũng cần đặc biệt chú ý đến mối quan hệ giữasản phẩm và hưởng thụ văn hóa nghệ thuật. Đó là một mối quan hệ biện chứng.

Trong kinh tế học, người ta thường xác định: tuy con người tạo ra sản phẩm, nhưng ngược lại sản phẩm cũng tạo lại con người. Một đứa trẻ sống ở thành phố, giữa một loạt phương tiện và máy móc hiện đại và một đứa trẻ sinh ra giữa lũy tre làng với những phương tiện nông nghiệp thô sơ sao có thể nhìn đời với đôi mắt hoàn toàn như nhau.Trước đây mấy chục năm có được chiếc xe đạp Diamant đã lấy làm thỏa mãn lắm rồi , còn bây giờ xe máy loại nào còn phải lựa chọn chán chê mới quyết!

Trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật cũng vậy. Tính chất nền văn hóa nghệ thuật nào sẽ tạo ra tầng lớphưởng thụ theo tính chất ấy và ngược lại, tầng lớp hưởng thụ theo kiểu nào cũng sẽtác động ngược lại nền văn hóa nghệ thuật ấy.

Một nhà văn hóa thành phố thường có cây đàn dương cầm nhưng nhà văn hóa nông thôn lại cần đàn nhị sáo trúc…hơn.

Phải chăng do chuộng nghệ thuật nghe nhìn và tập thể đông vui hơn là một mình lặng lẽ trước cuốn truyện mà hoạt động sân khấu ở thành phố Hồ Chí Minh luôn náo nhiệt…vì thích chuyện nay hơn mà kịch lấn át cải lương cổ trang và hương xưa, vì cầu giải trí hơn suy ngẫm giáo dục mà tiết mục thường hài hước, kích động, kinh dị???

Như vậy, đứng trên góc độ của những nhà quản lý cần giữ thế chủ động trong mối quan hệ biện chứng giữa tác phẩm và người hưởng thụ, phải có định hướng và không nên xem thường những cuộc điều tra xã hội học văn hóa nghệ thuật. 

5/ Như trên đã nói, nhu cầu vật chất khác với nhu cầu văn hóa nghệ thuật. Ở một mức tương đối nhất định, nhu cầu vật chất là nhu cầu bẩm sinh, đói thì khắc biết tự tìm ăn…còn nhu cầu hưởng thụ văn hóa là kết quả của quá trình giáo dục và tu dưỡng.

Tôi nói tương đối, vì thực ra… chẳng hạn như uống trà, hút thuốc…chỉ là những nhu cầu vật chất tự nhiên, nhưng nghiện thuốc nghiện trà lại là kết quả của một quá trình  sử dụng, thưởng thức, người ta cũng nói tới “Trà đạo” “Mốt” này mốt nọ… vì đòi hỏi sự tinh tế, điêu luyện…nhưng, tự bản thân chúng, không hàm chứa một nội dung xã hội như tác phẩm văn hóa nghệ thuật.

Để đạt trình độ thưởng thức văn hóa nghệ thuật một cách tinh tường nhất thiết phải có sự giáo dục tu dưỡng nhất định. Phải bắt đầu có sự bồi dưỡng tự nhiên từ lời ru của mẹ, câu chuyện cổ tích của bà và chương trình giáo dục thường thức văn hóa nghệ thuật của nhà trường nhưng yêu cầu này trong hệ thống giáo dục và truyền thông của ta còn khá mỏng manh. Người mù họa điếc nhạc, lười đọc… ở ta hiện nay không ít, so với các nước phát triển là một yếu điểm khá rõ.

Hiện nay sinh hoạt văn hóa nghệ thuật của ta cũng lại đang thiên về các loại hình văn hóa đại chúng, các cuộc thi ca nhạc và múa nhảy khác nhau, các cuộc thi sắc đẹp liên tục diễn ra… lấn lướt các loại hình văn hóa nghệ thuật chính thống, bác học khác. Những chuyện “rối ren” trong đời sống văn hóa nghệ thuật cũng thường xảy ra trong giới văn hóa đại chúng này. Đó là một hiện tượng phiến diện cần chú ý nếu muốn nhân dân ta đạt được một trình độ hưởng thụ văn hóa nghệ thuật thực sư.

Người ta cũng thường nói: “Dạy con từ thuở còn thơ”. Thế mà đất nước với 90 triệu dân chúng ta, ngoài các câu lạc bộ, lại chỉ có một Nhà hát chuyên phục vụ “Tuổi trẻ”, há chẳng phải là một điều đáng suy nghĩ sao ??!!

Hà Nội 10/2013

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại