Nhà văn Việt Nam 30 năm nhìn lại
22-01-2016 04:48


Những ngày cuối 2015, văn học Việt Nam chuẩn bị kỷ niệm 30 năm đổi mới bằng một sự kiện rất có ý nghĩa: Việt Nam cùng với thế giới kỷ niệm 250 năm sinh Nguyễn Du và Truyện Kiều. Đó là dịp để chúng ta quan chiêm ở một cự ly rất gần sức sống và tác động xã hội của một tác phẩm văn học đích thực. Cốt truyện- ở đây như một hiện thực đời sống- là của nước ngoài, nhưng khi vào bàn tay chuyển tải tài nghệ của một bậc thiên tài, đã giản dị hóa thành một câu chuyện kể mang phong vị bình dân, cố tình mang vẻ ngoài dân dã (Lời quê chắp nhặt dông dài…), nhưng chứa chở nhiều tầng sâu triết lý nhân sinh muôn thuở. Cả sự thăng trầm khi định giá tác phẩm trong dòng chảy thời gian và thế sự, cũng giúp chúng ta hiểu, ngay cả khi đã là một tuyệt tác, thì hiểu nó, đánh giá về nó là việc thường xuyên phải làm lại và cập nhật bằng những tri thức mới nhất của nhiều ngành khoa học nhân văn.

Nhưng không chỉ có thế. Hơn 200 năm qua, ngoài thông lệ văn chương, Truyện Kiều còn có một phương thức tồn tại đặc biệt, như một tác phẩm truyền miệng sâu rộng trong dân gian. Các bậc thức giả nhiều thời nghiên cứu, tìm tòi phần lớn cũng nương theo cách thức sinh tồn độc đáo này. Cho đến nay, đâu là bản Kiều gốc vẫn còn là một câu hỏi không lời đáp. Quan tâm tới môi trường sinh tồn của một tác phẩm trong quá khứ, có nghĩa, phải đặt lại vận mệnh của văn học trong một xã hội đã thay đổi về nhiều mặt hiện nay và mai sau. Chính đất nước hơn 90% là nông dân, kể cả người mù chữ, đã là nơi nương náu, sinh tồn của câu chuyện về một cô Kiều ở thời Gia Tĩnh, Triều Minh bên ngoại bang. Mặc cho tác giả đã chỉ rạch ròi gốc tích, quê quán nhân vật như thế, nhưng khi đi vào đời sống, Kiều lại được địa phương hóa, thanh xuân hóa, cải lão hoàn đồng, để kéo về thành người cùng thời, cùng quê thân gần, và nhiều khi nhập thân vào chính họ. Hiện tượng các chính khách đông tây thời nay rụt rè vịn vào bờ vai nàng Kiều làm nhịp cầu ngắn nhất để vượt qua những bãi chông mìn của quá khứ, chinh phục niềm tin của dân Việt, hiển lộ thêm sức sống bền bỉ và tính hiện đại của một tác phẩm khi đã đạt đến tầm vóc cổ điển.

Đất nước bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thậm chí cả xây dựng nông thôn mới, với phương hướng công nghiệp hóa sản xuất nông nghiệp, đã và đang làm thay đổi không gian và khí hậu sinh tồn của văn học nghệ thuật, trong đó có văn học. Những định nghĩa ngỡ như kinh điển về nhà văn và văn học của lớp trước rất dễ thành hài hước với lớp trẻ hôm nay. Đời sống tinh thần và tình cảm của con người hiện đại hình như đang cần những loại thuốc bổ dưỡng mới, và bệnh tật cũng cần ở văn học những loại kháng sinh mới. Những suy nghĩ đó tới với tôi, khi lướt nhìn lại sự biến động của đội ngũ nhà văn Việt Nam qua 30 năm đổi mới.

Còn nhớ, năm 1985, nhân 40 năm cách mạng tháng Tám và Quốc khánh, NXB Văn học có in tập chuyên luận Một thời đại mới trong văn học của các tác giả Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân… tôi góp bài về đội ngũ nhà văn bốn thập kỷ qua. Năm 1995, khi tái bản, đã là 10 năm sau đổi mới, nhiều điều phải viết lại. Phần của tôi: Sự hình thành và phát triển của đội ngũ nhà văn kiểu mới chỉ viết bổ sung. Cho đến thời điểm đó, nhà văn Việt Nam vẫn được phân chia thành mấy thế hệ khá rõ ràng:

1. Thế hệ tiền chiến: Đây là thời điểm rất quan trọng, không phải về sáng tác, mà về đánh giá, định giá, và tổng kết sự nghiệp sáng tác tri qua nhiều biến động lịch sử của lớp nhà văn cầm bút từ trước 1945. Những sự nghiệp từng bị chia lẻ trong những thời điểm lịch sử nhất định, nay được gom về trong một tổng thể. Nhiều đứa con tinh thần một thời phải từ bỏ, nay được chính thức thừa nhận, làm nên sự giàu có, đa sắc của một hành trình sáng tạo không đơn giản. Trong thế kỷ XX, đây là thế hệ có nhiều tác giả giàu tài năng sáng tạo, có nhiều tác phẩm ghi dấu son trong văn học nước nhà. Chắc chắn, không phải ở đâu và bao giờ cũng có được một thế hệ nhà văn tài năng phong phú, cá tính sáng tạo đa dạng, sức sáng tạo phát lộ từ khi còn rất trẻ, và nhiều người gi được bền bỉ đến cuối đời.

2. Thế hệ chống Pháp: Đây là thế hệ con đẻ của cách mạng và kháng chiến chống Pháp. Cho đến những năm 90 của thế kỷ trước, họ là thế hệ nắm quyền định hướng cả nền văn học. Hầu hết cơ quan văn nghệ do thế hệ này nắm gi. Nhiều tác giả, đặc biệt các nhà văn mặc áo lính vẫn còn sức sáng tạo với những đổi mới quyết liệt. Đây là thế hệ nhà văn- chiến , bằng cuộc đời và tác phẩm của mình đã góp sức động viên tinh thần yêu nước, ý chí chiến đấu của dân tộc, nhiều tác phẩm của họ sẽ còn mách bảo với tương lai gương mặt tinh thần và đời sống tình cảm của người Việt ở một thời điểm không thể quên. Chủ quan và quá tự tin ở chỗ đứng của mình, không ít nhà văn gặp nhiều trắc trở. Nhưng đến thời điểm đổi mới, hầu như nhiều điều đã được giải tỏa. Nhiều tác phẩm và tác giả đã được đánh giá lại. Thế hệ nhà văn này đã hoàn thành tốt đẹp sứ mệnh công dân - nghệ sĩ với nghĩa đẹp nhất của nó.

3. Thế hệ chống Mỹ: Tính về số lượng nhà văn và tác phẩm, đây là thế hệ đông đảo và thành công nhất. Được đào tạo chu đáo, từng có mặt ở nhiều địa bàn, nhiều đơn vị chiến đấu khắp hai miền Nam Bắc, từ thực tiễn chiến đấu và công tác mà tìm tới văn học như tìm thêm một vũ khí chiến đấu. Tác phẩm về đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng, nhân vật người lính chiếm một số lượng chủ yếu trong sáng tác của thế hệ nhà văn từng cầm súng này. Nhưng cùng với thời gian, giai điệu chung từ thuở đầu kháng chiến chống Pháp: Lòng vui rung câu hát/ Của chúng ta làm/ Ca ngợi chúng ta (Chính Hu), vẫn làm giàu một dàn đồng ca, có thể là hợp xướng nhiều bè, nhưng tìm một vài tác giả thật nổi trội có l không dễ. Niềm lạc quan cố hu, ta thắng địch thua, vẫn được tiếp tục truyền qua nhiều tác phẩm. Trong những khuôn thước và giới hạn văn hóa, tầm nhìn đương thời, sáng tạo tập thể của thế hệ chống Mỹ thực tế đã vượt lên những gì có thể, tạo nên một bức tranh văn học đặc sắc, độc đáo. Trước thực tế cuộc sống hậu chiến không như hình dung, đã xuất hiện một số tác phẩm nói đến thân phận người lính không tìm thấy chỗ đứng trong đời sống mới, như là dấu hiệu của sự giải thoát khỏi một quan niệm cố hu của văn học chiến tranh. Cho đến nay, đây vẫn là lực lượng chủ chốt trong các cơ quan liên quan đến văn học. Nhưng sáng tác và sáng tạo của họ hầu như đã hoàn thành xuất sắc.

Trong những năm đổi mới, đóng góp vào văn học và sự nghiệp kháng chiến của ba thế hệ này đã được Nhà nước công nhận xứng đáng bằng các Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước. Đã có bốn nhà văn được tuyên dương Anh hùng: Huỳnh Văn Nghệ, Nguyn Thi, Lê Anh Xuân, Chu Cẩm Phong.

Nếu coi ba thế hệ này là những cánh rừng nguyên sinh, thì 30 năm qua, cũng như các cánh rừng đại ngàn ở Tây Nguyên và biên giới phía Bắc, thời gian cứ lặng lẽ và tàn nhẫn đốn hạ hầu hết những cây cao bóng cả, từng vượt qua bom đạn, khói lửa chiến tranh. Bước vào một nhà sách hôm nay, biết bao nhiêu tác phẩm quen thân vẫn được thường xuyên khoác tấm áo mới mà tác giả đã thành người thiên cổ. Một thành quả không thể có nếu không có những năm đổi mới là sự khôi phục vị trí cho nhiều tác giả và tác phẩm giàu lòng yêu nước, thương dân sống ở đô thị Miền Nam trước đây, một số giờ đang cư trú ở nước ngoài. Kho tàng văn học hiện đại của nước nhà giàu có lên nhờ sự cởi mở trong quan niệm về văn học dân tộc. Tâm huyết, tài năng, tình cảm gói trong những trang sách vẫn mách bảo cho người sống hôm nay và mai sau những bài học về làm người, về sử dụng cuộc đời sao cho hu ích, cho có danh gì với núi sông!

Cho nên khi nói đến văn học thời kỳ đổi mới, người ta vẫn nhìn vào và hy vọng ở lớp nhà văn cầm bút từ những năm 90 của thế kỷ trước. Nếu như trong chiến tranh, lực lượng sáng tác văn học được tổ chức thành đội hình, có lớp lang, thứ tự. Những cây cao bóng cả được tôn trọng. Một vài tác phẩm mới, một giọng điệu thơ văn lạ được chào đón, quan tâm. Viết văn không mưu cầu kiếm sống, không phải là một nghề, nhưng ai đã bước vào thế giới văn chương, dễ xác định hướng sẽ đi, việc sẽ làm, tính chuyên nghiệp vì thế lại khá rõ.

Nhà văn Việt Nam 30 năm nhìn lại - ảnh 1
Các nhà văn chụp ảnh tại chiến trường năm 1970 (từ phải qua trái): Giang Nam, Anh Đức, Bùi Kinh Lăng, Bảo Định Giang, Chim Trắng, Diệp Minh Tuyền, Nguyễn Chí Hiếu (ảnh: Hồng Sến- qdnd.vn)

Từ ngày đổi mới, tình thế đã có nhiều đổi khác. Thế giới văn chương không còn nét thiêng liêng, xa cách, mà tràn ngập tinh thần dân chủ. Số người tham gia sáng tác văn học đông vui với một khối lượng tác phẩm in ấn nhiều đến mức không một nhà phê bình hay quản lý văn hóa nào có thể bao quát hết. Đời sống đất nước hòa bình giúp giải phóng cho người cầm bút những nghĩa vụ công dân của một đất nước chiến trận. Nền kinh tế thị trường, với sự phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ rệt. Giao lưu và hòa nhập thế giới, trong đó có văn hóa, làm cho văn hóa thế giới với nhiều loại hình giải trí tràn ngập trong đời sống thường nhật đã làm thay đổi vị trí trang trọng của văn học và vị trí xã hội của nhà văn. Tác dụng tích cực thấy khá rõ. Các lớp nhà văn trẻ kế tiếp bước vào văn học, nhanh chóng có tác phẩm được chú ý. Giọng điệu là thứ được trình diện đầu tiên, nhiều cây bút trẻ có học vấn cao, có điều kiện đi lại nhiều, có quan hệ rộng, nên ngay từ tác phẩm đầu tay đã tỏ ra điêu luyện, không trải qua thời kỳ tập bút như thế hệ trước. Sức viết, sự mở rộng đề tài, thể loại cũng là thế mạnh của nhiều người. Điều kiện in ấn dễ dàng, sự tham gia nhanh nhạy của báo chí góp phần làm cho nhiều tác phẩm và tác giả có một lượng người đọc khá đông. Có mấy tác giả không chỉ sống được mà còn sống phong lưu chỉ bằng sáng tác. Hoạt động của văn học trẻ bao giờ cũng sôi động, đầy màu sắc. Nhưng nói đến những tác phẩm có đóng góp vào đời sống xã hội, những nhà văn thực sự có tìm tòi mới, có tiếng nói được xã hội công nhận, thật không dễ. Không ít người coi văn chương chỉ là một trong những hoạt động để thể hiện bản thân mình. Khá nhiều cây bút có năng khiếu văn chương, sau một số tác phẩm đầu tay đầy hứa hẹn, đã bị công việc với cường độ cao của guồng máy báo chí làm cho tơi tả để kiếm sống.

Xưa nay, người ta vẫn nghĩ, thiên tài chỉ là những cây mọc dại, không thể chăm bón mà thành. Nhưng để có những nhà văn lớn, nghĩa là sáng tác được những tác phẩm mà đương thời mong đợi, hậu thế có thể nhìn vào để không chỉ thấy hình ảnh một thời, mà còn nhận từ đó lời mách bảo thân gần cho cuộc sống chính họ, thì không thể thiếu trách nhiệm của xã hội, ở đây là những cơ quan liên quan. Rất gần thôi, nhìn xem cách phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, và sử dụng các vận động viên thể thao đỉnh cao của ngành thể thao nước ta. Trong văn học nghệ thuật, hình như không ai nghĩ đến một chiến lược đường dài như thế? Không đào tạo được nhà văn, nhưng với những người có năng khiếu, việc tạo điều kiện để nâng cao trình độ văn hóa, ngoại ngữ, xã hội, sự từng tri, và điều kiện sáng tác là việc có thể tổ chức và làm được. Đã đành là thế giới phẳng, ngồi một nơi, vẫn có thể biết nhiều chuyện trên thế giới. Nhưng là nhà văn thì chỉ biết là không đủ. Nhìn mấy nhà văn xuất hiện chói sáng một thời rồi cứ mờ dần như ngọn đèn hụt bấc khi tuổi đời còn trẻ, tôi thấy hình như chúng ta chưa làm được những việc cần làm đối với việc bồi dưỡng các nhà văn trẻ. Càng mở rộng giao lưu quốc tế, càng phải xây dựng được một nền văn hóa dân tộc vững vàng, giàu bản sắc, trong đó có văn học. Để trong những năm tới, văn học nước nhà có một thế hệ nhà văn và tác phẩm sánh vai với bạn bè quốc tế, một chiến lược phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng những người có năng khiếu văn chương cần được sớm cụ thể hóa, mà không chỉ với nhà văn. Các ngành nghệ thuật khác cũng cần đào tạo đồng bộ, nếu không muốn rơi vào tình trạng đã được nhiều nước đi trước cảnh báo: Nếu kinh tế phát triển mà không đồng thời với phát triển văn hóa là một nền kinh tế dã thú. Tình thế nước ta còn có thể nghiêm trọng hơn: Một cuộc xâm lăng về văn hóa đang diễn ra mà chưa có chiến lược ngăn chặn cả trước mắt và lâu dài.

Ngô Thảo

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại