Sức sống của những câu thơ
01-07-2015 12:15


 

Thơ vốn dĩ được yêu quý bởi nó là tiếng nói gần nhất với nội tâm của người viết. Người đọc thơ nhiều khi chỉ cần cảm bằng tâm hồn mình (lấy hồn tôi để hiểu hồn người - Hoài Thanh); người yêu  thơ chỉ cần “nằm lòng” một câu thơ tâm đắc cũng đã đủ để yêu đời và trở thành tri âm của thi nhân.

Nhưng, ở một khía cạnh khác, thơ đang đứng trước xu hướng bị coi rẻ bởi những đo đếm khá thực dụng trong bảng giá trị mới. Trong quá  khứ, nhà thơ từng được coi là những người đi tiên phong và lập ngôn đầy đủ nhất về cái “tôi” cá nhân được giải phóng; là biểu tượng của tầng lớp thanh niên, trí thức tiểu tư sản. Họ say sưa với những sự cởi trói của thơ từ chính những đặc điểm thi pháp của mình: “Tôi sắp toan bày ra một lối Thơ mới. Vì nó chưa thành thục nên chưa có thể đặt tên là lối gì được, song có thể cứ cái đại ý của lối Thơ mới này ra, là: đem ý có thật trong tâm khảm mình tả ra bằng những câu, có vần mà không phải bó buộc bởi niêm luật gì hết” (Phan Khôi , Phụ nữ tân văn 122, năm 1932). Từ đó dẫn đến những cuộc “giải phóng” tư tưởng khi độc giả lần đầu tiên được thấy sự tự tôn trong thơ (Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất - Xuân Diệu); được thấy nhà thơ tôn vinh tình yêu, độc tôn tình yêu - người tình hơn tất thảy mọi mối quan hệ xã hội khác (Cả kinh thành có những ai/ Cả kinh thành có một người mắt nhung - Nguyễn Bính). Hay như khi vẻ đẹp của con người thực, giữa đời thực, cảm nhận bằng da thịt (nhục cảm) của trần tục chứ không hư vô ước lệ những ngọc ngà, mai, liễu… Đó là những em đẹp khi em phồng nét ngực- Xuân Diệu; Ơ kìa bóng nguyệt trần chuồng tắm/ Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe - Hàn Mặc Tử. Xa hơn nữa, là sự đổi mới quan niệm về cuộc sống với ý thức lấy vẻ đẹp con người làm trung tâm, làm thước đo chuẩn mực…

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, những nhà thơ sáng tác bằng chữ quốc ngữ từ những trào lưu, phong cách khác nhau đa phần đều tham gia hoạt động tuyên truyền, cổ vũ kháng chiến. Khi ấy, câu thơ không chỉ còn là tiếng lòng của một tầng lớp, bộ phận mà đã thành lời hiệu triệu, kêu gọi tinh thần đoàn kết, lạc quan cách mạng. Câu thơ không còn là lời cảm thán hay tiếng lòng tha thiết mà trở thành tiếng “gọi đàn” đồng bào, như: Mau mau lên đứng dậy! / Gươm gươm đâu, tuốt ra/ Súng súng đâu, vác chạy/ Cứu cứu đồng bào ta! (Giết giặc - Tố Hữu). Và rồi, sau khi miền Bắc được giải phóng, bước vào công cuộc xây dựng CNXH, đấu tranh giải phóng miền Nam, câu thơ lại một lần nữa là lời thúc giục tinh thần nhân dân lên xây dựng vùng kinh tế mới hay ra chiến trường:

Con tàu này lên Tây Bắc, anh đi chăng? 

Bạn bè đi xa, anh giữ trời Hà Nội 

Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi 

Ngoài cửa ô? Tàu đói những vành trăng.

(Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên) 

Ðường ra trận mùa này đẹp lắm 

Trường Sơn Ðông nhớ Trường Sơn Tây. 

(Trường Sơn Ðông, Trường Sơn Tây - Phạm Tiến Duật)

Cho đến khi cuộc sống bình trở lại trên dải đất hình chữ S đã toàn vẹn, câu thơ tuy không còn đồng nhất với những gì lớn lao của vận mệnh dân tộc nhưng vẫn còn đủ sức lay động lòng người. Những bận rộn lo toan sau chiến tranh hay những cật vấn riêng tư:

Anh về lại ngôi nhà mình 

Sau mười năm chiến tranh. 

 

Mẹ đón anh buổi bình minh nhập nhoạng, 

Cơn mưa đón anh buổi hừng đông chạng vạng, 

 

Mưa… Mưa… Mưa… 

Mưa ngoài trời 

Khắp nơi, 

Mưa ngoài sân, 

Nhưng cũng mưa cả trong nhà… 

Sau lời mẹ là lời mưa reo ca… 

(Ngày hòa bình đầu tiên - Phùng Khắc Bắc)

Con là con trai của mẹ 

Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ 

Ba mươi tuổi từ mặt trận về 

Vội vàng cưới vợ 

 

Ba mốt tuổi tập tành nhà cửa                                                        

Rào miếng vườn trồng cây rau 

Hạnh phúc xinh xinh nho nhỏ ban đầu 

Như mặt trời mới nhô ra khỏi núi 

(Tên làng - Y Phương)

Hay như khi nhà thơ, câu thơ lao đao trước những lo toan cơm áo của nền kinh tế thị trường, câu thơ suồng sã vẫn tìm thấy chỗ đứng trong lòng bạn đọc bởi sự bụi bặm, bình dân, bình dị mà thành thật, trong sáng của nó:

Cực kỳ gốc sấu bóng me 

cực ngon cực nhẹ cực nhòe em ơi 

đừng chê anh khoái bụi đời 

bụi dân sinh ấy bụi người đấy em

(Cơm bụi ca - Nguyễn Duy)

Đã có lúc người đọc tạm xếp lại những câu thơ để đọc những thiên phóng sự, những trang tiểu thuyết đầy ắp tư liệu sống. Hay những khi, sức mạnh của văn hóa thị giác lấn át văn hóa đọc, thơ cũng bị ghẻ lạnh. Nhưng chưa bao giờ thơ mất đi chỗ đứng trong lòng người vì nhà thơ bắt nhịp được với nhịp sống, khi người đọc và nhà thơ gặp được nhau ở một số điểm tương đồng trong quan niệm về xã hội và thiên nhiên. Giờ đây, những người viết trẻ đang nỗ lực đưa vào thơ những suy cảm nảy sinh trong không gian sống và đời sống tinh thần của một cuộc sống hiện đại. Người đọc không chối bỏ di sản thơ truyền thống mà vẫn dành một thái độ trân trọng với những khúc thức của Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Hồ Xuân Hương… Vẫn tìm thấy giá trị truyền thống ở những câu thơ hiện đại. Nhưng thơ cần được viết bằng nhận thức mới, thái độ cảm xúc mới dựa trên những triết luận thuyết phục chứ không phải cái cách mà nhiều người thường hay làm đó là xáo trộn, làm biến dạng, làm câu thơ trở nên kì quái, dị mọ… Khi ấy, thơ sẽ được đón nhận và tôn vinh với đúng nghĩa của mình.

Bùi Việt Phương

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại