Tâm thức lưu đày và nỗi nhớ cố hương trong thơ xuân Nguyễn Bính
10-02-2016 03:59

Tâm thức lưu đày và nỗi nhớ cố hương trong thơ xuân Nguyễn Bính - ảnh 1

Tưởng niệm 50 năm ngày mất thi sĩ Nguyễn Bính

Trong những gương mặt tiêu biểu của Thi ca tiền chiến Việt Nam những năm 1932-1945, Nguyễn Bính được định danh là thi sĩ của đồng quê như chính ông đã tự nhận:“Hoa chanh nở giữa vườn chanh/ Thầy u mình với chúng mình chân quê” (Chân quê). Cái chất “đồng quê” ấy đã chuyển hóa thành những thi giới chứa đầy hồn quê, tình quê và đã trở thành một sự ám ảnh trong thơ ông. Vì vậy, đọc thơ Nguyễn Bính ít ai nghĩ rằng ở con người nhà quê “chính hiệu” ấy lại ẩn chứa một tâm thức lưu đày và nỗi nhớ cố hương, vì những tháng năm phải sống biền biệt trong cảnh ly hương. Tâm thức ấy, dường như là sự an bài của định mệnh, nó không chỉ hiển lộ trong thơ mà còn là một thực thể trong hành trình sống của đời ông qua những cuộc thiên di trên mọi miền đất nước, từ Hà Nội nghìn năm văn vật đến Cố đô Huế cổ kính, rồi dạt vào Sài Gòn hoa lệ, tới những vùng đất phía Nam Tổ quốc mà bài thơ Hành phương Nam như một hiện hữu xác tín cho những tháng ngày lưu lạc “giang hồ” của cuộc thiên di này như thi nhân đã tâm sự:

Đôi ta lưu lạc phương Nam này

Trải mấy mùa qua én nhạn bay

Xuân đến khắp trời hoa rượu nở

Mà ta với người buồn vậy thay

(Hành phương Nam)

Và trong những tháng ngày lưu lạc ấy, Nguyễn Bính luôn khắc khoải một nỗi nhớ cố hương. Nỗi nhớ ấy là tâm thức hiện sinh hiện hữu trong thơ ông, là tiên đề tạo nên dự phóng để thi nhân sáng tạo. Thế nên, khi đọc những câu thơ này, ta không thể không thấy nao nao một nỗi nhớ cố hương khởi lên từ hồn thơ của tác giả dội vào lòng ta như những con sóng vỗ bờ. Nỗi nhớ ấy như được chưng cất từ tâm cảm thi nhân, tan chảy vào thơ như một thứ mật đắng nhớ mong và xa cách của tâm thức lưu đày...

Quê nhà xa lắc, xa lơ đó

Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay

(Hành phương Nam)

Chao ơi, Tết đến em không được

Trông thấy quê hương thật não nùng

(Xuân tha hương)

Song, tâm thức lưu đày ấy, không chỉ là cái riêng có của thi sĩ Nguyễn Bính. Đó là căn tính của phận người trong kiếp nhân sinh và thi nhân đã nâng lên thành một qui luật phổ quát của tâm cảm con người. Đó là cái tình hoài hương trong những ngày xuân phải sống “lênh đênh” xa cách, khi mà nhu cầu đoàn tụ, sum họp bên ngôi nhà ấm êm ở quê nhà mỗi khi Tết đến, đang là khao khát thiêng liêng đối với con người hơn bao giờ hết!?

Lênh đênh tóc rối cỏ bồng

Chiều ba mươi tết ai không nhớ nhà

(Xuân về nhớ cố hương)

Hình như trong cõi nhân gian này, những thi sĩ đích thực đều mang thân phận lưu đày của kẻ tha hương!? Và chính điều này đã kết tinh trong thơ họ một nỗi nhớ cố hương như dấu ấn của nỗi đau xa cách. Bởi thế, Tản Đà đã từng “ngạo nghễ” trong đắng chát khi tự thú: “Giang hồ mê chơi quên quê hương”. Còn Huy Cận từng xa xót thở than “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” nên suốt đời, luôn mang trong tâm thức một mối “sầu vạn cổ” của kẻ ly hương. Thế nên, không phải ngẫu nhiên trong thơ Nguyễn Bính lại xuất hiện nhiều bài thơ xuân thể hiện tâm thức lưu đày như: Xuân tha hương, Xuân vẫn tha hương và ngay cả ở những bài thơ không có từ “tha hương” thì tâm thức lưu đày và nỗi nhớ cố hương vẫn đong đầy trong thi đề, thi ảnh, thi tứ của các bài thơ như: Xuân nhớ, Xuân thương nhớ, Xuân về nhớ cố hương, Hành phương Nam, Tết biên thùy, Đêm mưa đất khách... Bởi, nỗi nhớ cũng là một phương diện khác của tâm thức lưu đày...

Trong cái nhìn của chủ nghĩa hiện sinh, con người hiện hữu giữa cõi nhân gian chính là dấn thân vào một cuộc lưu đày và cuộc lưu đày của thi nhân là một cuộc lưu đày bất tận. Vì vậy, trong thơ Nguyễn Bính nói chung và thơ xuân của ông nói riêng, tâm thức lưu đày luôn thường trực và là cảm hứng chủ đạo làm nên một hệ mỹ học của thơ ông. Thế nên, trong bài thơ Xuân tha hương được Nguyễn Bính viết ở Huế, tháng chạp năm Nhâm Ngọ 1942, câu thơ “Tết này chưa chắc em về được”, thi nhân đã nhắc lại đến bảy lần và mỗi lần thể hiện một trạng thái khác nhau của tâm thức lưu đày. Nhưng tựu trung vẫn là sự xa cách và nhớ thương trong cô độc phận người của những ngày “xuân tha hương” mà khi chạm đến những câu thơ này lòng ta không thể không thấy xa xót và cảm thương đối với thi nhân. Điệp ngữ “Tết này chưa chắc em về được” như lưỡi dao cứa vào tim thi sĩ và người tiếp nhận vì sự ám ảnh khôn nguôi của xa cách và nhớ mong. Thi sĩ - kẻ tha hương dường như đang tha thiết kiếm tìm sự đồng cảm, tri âm trong nỗi đau xa xứ đang đè nặng tâm hồn ông đến “não nùng”...

Tết này chưa chắc em về được

Em gửi về đây một tấm lòng

Ôi, chị một em, em một chị

Trời làm xa cách mấy con sông

...

Tết này chưa chắc em về được

Em gửi về đây một tấm lòng

Chao ơi, Tết đến em không được

Trông thấy quê hương thật não nùng

(Xuân tha hương)

Song, cái tâm thức lưu đày đó không chỉ đơn thuần là sự cách xa, là nỗi buồn và niềm thương nhớ đến quặn lòng đối với cố hương mà đó còn là nỗi cô đơn của thân phận vốn là một yếu tính của kiếp người. Và khi nỗi cô đơn đẩy đến tận cùng thì tâm thức lưu đày và nỗi nhớ cố hương kết lại thành nỗi đau nhân thế. Bài thơ Xuân tha hương của Nguyễn Bính là hiện thân của nỗi đau này, khi mỗi độ xuân về nhưng thi nhân vẫn là kẻ bơ vơ, lạc loài, vẫn “ăn cái Tết ngoài thiên hạ”, vẫn sống lặng thầm trong cảnh tha hương:

Bốn bể vẫn chưa yên sóng gió;

Xuân này em chị vẫn tha hương,

Vẫn ăn cái Tết ngoài thiên hạ,

Son sắt say hoài rượu bốn phương.

(Xuân tha hương)

Phải chăng, những bài thơ thấm đẫm nỗi buồn nhân thế này cũng là một giá trị trong thơ Nguyễn Bính. Nỗi buồn ấy là kết tinh từ thân phận lưu đày của thi nhân trong những mùa xuân tha hương, trong những ngày tháng “giang hồ” trên khắp mọi miền đất nước, mà có những lúc ông phải sống như kẻ không nhà, sống trong đói cơm, thiếu áo và chỉ còn có thơ để ông “vịn” (từ của Phùng Quán) vào đó mà tồn sinh, mà hiện hữu... Cho nên, có thể nói, những bài thơ xuân với cảm thức “tha hương” của Nguyễn Bính đã tạo nên một cảm thức mỹ học về nỗi buồn của kiếp lưu đày trong thân phận con người. Vì vậy, Đào Trường Phúc trong bài viết: “Nguyễn Bính những mùa xuân tha hương”, khi nhận định về tính chất tha hương của Nguyễn Bính, rất có lý khi cho rằng: “Có hay chăng một thứ định mệnh ràng buộc Nguyễn Bính với những chuyến đi? Đó là những chuyến đi vừa thơ mộng vừa cay đắng, những chuyến đi thất bại. Đó là những chuyến đi cô quạnh, nếu có một kẻ đồng hành nào thì cũng chỉ là kẻ đồng hành tình cờ, gặp nhau trong nỗi cô đơn của mỗi người để chia sẻ một chút gió bụi buồn của giang hồ, rồi lại chia lìa nhau suốt đời. Đó là những chuyến đi chất chứa đầy nhớ thương, đầy chua chát, đầy tan nát. Đó là những chuyến đi tượng trưng đầy đủ nhất cho định mệnh của một thi sĩ giang hồ, của thi sĩ và giang hồ” (1) Và Nguyễn Bính gọi đó là nỗi buồn của “tên lính ở biên cương” như chính ông đã thú nhận ở bài thơ Xuân tha hương:

Em đi non nước xa khơi quá!

Mỗi độ xuân về bao nhớ thương;

Mỗi độ xuân về em lại thấy,

Buồn như tên lính ở biên cương.

(Xuân tha hương)

Và theo Đào Trường Phúc, chính nỗi buồn, niềm cô đơn của những ngày tháng lưu đày trong kiếp giang hồ đó đã đốt cháy trong tâm thức Nguyễn Bính một khao khát trở về, một khát vọng hoài hương, một cái “ngoảnh lại” trong cuộc phiêu lưu của việc chạy đua với định mệnh. Chính “Nỗi cô đơn, tình hoài hương, tâm trạng lưu đày cùng một lúc phả vào thơ Nguyễn Bính trong giai đoạn sau này của đời ông, một hơi thở chua chát thê lương và đốt nóng lên trong dòng thơ ấy ngọn lửa khao khát của một ngày về.” (2) Nhưng cay đắng hơn, tâm thức lưu đày ấy không chỉ là hệ quả của sự xa cách quê hương bởi những cuộc thiên di, để từ đó thi nhân khao khát một ngày trở về như Đào Trường Phúc đã viết mà có khi ông đã trở thành “kẻ lưu đày” trên chính quê hương mình. Vì vậy, có thể nói, tâm thức lưu đày trong thơ xuân của Nguyễn Bính chính là một phẩm tính hiện sinh của thân phận, của thế giới nội cảm kết tinh và lan tỏa trong vũ trụ thơ ông. Nó không phải là những “tinh tú rực rỡ” vô hồn mà là những “vì sao trơ trọi” của nỗi cô độc phận người trong kiếp tha hương. Vì vậy, nó gần gũi với tâm cảm của con người như một sẻ chia, bởi trong kiếp sống lênh đênh phận người, ai lại không có những ngày tháng xa quê. Thơ Nguyễn Bính chân thật mà say đắm hồn người là vì thế...

Quê nhà gối chiếc, thôi rồi kẻ

Chia nửa vầng trăng với dặm trường

(Xuân vẫn tha hương)

Để rồi, “Trong nỗi cô quạnh ấy, ngọn lửa khát vọng của ngày về quê hương vẫn không tắt trong lòng Nguyễn Bính, ngọn lửa thắp sáng giữa cõi phi - ý - thức đó đôi lúc đã khiến cho chính ông có những ảo giác về một ngày về. Lời ước hẹn và giấc mơ của những bài thơ chất chứa lòng sầu xa xứ.” (3)

Đất Bắc phải đâu là đất khách

Sao lòng mãi nặng mối tình quê ?

(Xuân nhớ)

Nhưng dù có đi đến đến tận cùng của nỗi khao khát “qui cố hương” thì Nguyễn Bính cũng không thể nào vượt qua sự đặt để của số phận trong kiếp lưu đày của một thi sĩ giang hồ. Vì theo Đào Trường Phúc thì “tình hoài hương của Nguyễn Bính, như thế, vẫn không biến đổi gì từ cái bản chất đặc biệt phảng phất trong mỗi câu thơ, từ Lỡ bước sang ngang đến những bài thơ cuối cuộc đời ông. Nguyễn Bính trước sau vẫn chỉ là một thi sĩ giang hồ, một thi sĩ tha hương.” (4) Và lý giải điều này từ góc nhìn của chủ nghĩa hiện sinh, Đào Trường Phúc đã rất có lý khi cho rằng: “Nỗi cô đơn của Nguyễn Bính, của một kẻ tự lưu đày trong những chuyến lang thang tìm kiếm quê hương bằng những bước rời xa quê hương, như thế, trở thành gần như một nỗi cô đơn thu kín và tuyệt vọng.” (5) Và đây chính là nhân duyên làm nên kiếp sống giang hồ của Nguyễn Bính trong những ngày hiện hữu ở cõi đời mà tâm thức lưu đày trong thơ xuân của ông là một phần trong kiếp “giang hồ” của thi sĩ.

Trót đà mang số sinh ly

Bao giờ tôi mới được về cố hương

Xuân về những nhớ cùng thương

Trời ơi! Muôn vạn dặm đường xa xôi!

Chiều ba mươi hết năm rồi

Nhà tôi, riêng một mình tôi vắng nhà

Tôi còn lận đận phương xa

Để ăn cái tết thật là vô duyên.

(Hành phương Nam)

Bài thơ Hành phương Nam như một dự báo cho cuộc đời ông khi ông dự cảm: Chiều ba mươi hết năm rồi/ Nhà tôi, riêng một mình tôi vắng nhà”. Bởi, cách đây năm mươi năm, ngày 29 Tết, Bính Ngọ 1966 (năm ấy, tháng Chạp không có ngày 30) ông đã “đi ra ngoài cõi sống” không phải trong ngôi nhà của mình mà ở nhà một người bạn yêu thơ ông. Thì ra, ngay cả đến khi chết, Nguyễn Bính vẫn chọn cái chết của một kẻ tha hương, một kẻ không nhà. Sinh thời, có thể nói, Nguyễn Bính là một trong không nhiều thi sĩ viết nhiều, viết hay và đắm đuối về mùa xuân... vậy mà đời ông hình như chưa có một ngày xuân viên mãn!? Số phận luôn đẩy ông vào những bi kịch của cuộc sống. Phải chăng, vì thế, ông đã trở thành thi sĩ thiên tài, dù chỉ là một thiên tài lỡ dở như Tạ Tỵ đã xác quyết: “Bính là một thiên tài, nhưng là một thiên tài lỡ dở, vì tổng kết từ cuộc sống bản thân tới nghệ thuật, ở bên trong mỗi dữ kiện người ta cảm thấy như Định Mệnh đã an bài cho Bính sự trừng phạt hơn ân thưởng. (...) Sự lỡ dở do Tình Yêu, do cuộc đời, do bạn hữu, do bản thân tạo nên, tất cả như a vào nhau để làm cho tiếng thơ buồn của Bính vút lên rồi tỏa ra những làn ánh sáng kỳ diệu giữa trời thơ nước Việt hôm qua, hôm nay và mãi mãi.” (6)

Có thể nói, số phận đời ông đã vận vào những câu thơ của ông như một định mệnh, để rồi ông mãi mãi là một kẻ suốt đời rong ruổi trên dặm đường thiên lý mà ngày trở về chỉ là một ước vọng mù khơi. Vì vậy, tâm thức lưu đày và nỗi nhớ cố hương trong thơ xuân Nguyễn Bính cũng là một phần cuộc đời ông, là một hệ giá trị trong thiên tài thơ Nguyễn Bính mãi mãi còn lại với thời gian... Đọc thơ xuân Nguyễn Bính trong cái se lạnh của những ngày chuyển mùa, không thể không day dứt bởi những vần thơ chân mộc nhưng hàm chứa triết lý nhân sinh sâu sắc: Khát vọng gắn bó con người với quê hương luôn là một hằng số văn hóa, là cội nguồn của sự sống. Với Nguyễn Bính, ngày Tết không trông thấy quê hương là nỗi buồn đau tột cùng… Và kiếp lưu đày chỉ khiến nỗi nhớ cố hương đầy thêm trong tâm cảm của nhà thơ. Đây cũng là chìa khóa giải mã tâm thức lưu đày và nỗi nhớ cố hương, một giá trị nhân văn trong thơ xuân Nguyễn Bính còn neo đậu mãi ở bến bờ tâm thức của người tiếp nhận và là căn tố tạo nên sự bất tử của đời thơ Nguyễn Bính...

Trần Hoài Anh

---------------------------

(1) (2) (3) (4) (5) Đào Trường Phúc: “Nguyễn Bính, những mùa xuân tha hương” Văn 189/1971, tr.45, tr. 50, 51, tr.52, tr.53, tr.51

(6) Tạ Tỵ, Mười khuôn mặt văn nghệ , SG, 1970, tr.134

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại