Thơ Việt luôn đồng hành với tâm hồn Việt
08-04-2015 11:30

 

(Toquoc)- Trong cuộc hội thảo quốc tế: “Thơ Việt - Nơi lưu giữ tâm hồn Việt” do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức, nhà thơ Bằng Việt đã cho rằng: “Vũ trụ quan và nhân sinh quan của người Việt từ xa xưa trong thơ vừa thấu đáo vừa dễ hiểu, vừa sâu xa vừa thực tiễn. Và các nhà thơ Việt nhiều thế hệ, nối dài đến tận hôm nay đã biết giữ gìn, phát huy vẻ đẹp ấy, tạo nên những trang thơ giàu sức sống nội tâm, tạo nên một di sản văn hóa xứng đáng là nơi phát lộ, lưu giữ và chuyển tải những gì cao thượng, đằm thắm, hiền hòa cũng như mạnh mẽ, cụ thể mang đầy đủ tính minh triết của tâm linh người Việt”. Trong lời phát biểu của nhà thơ nhấn mạnh hai đặc trưng xuyên suốt nhiều thế kỉ làm nên sức hấp dẫn của thơ Việt ấy là “vũ trụ quan” và “nhân sinh quan” trong thi ca. Phải chăng đó cũng là hai điểm mạnh giúp thơ giữ được địa vị trong lòng người đọc, giúp các trào lưu thơ thuần dân tộc luôn thắng thế trước những cải biến, xâm lăng của thơ ngoại lai.

Là một trí thức thuần thục các lí thuyết sáng tác văn học của phương Tây nhưng Hoài Thanh khi đánh giá phong trào Thơ mới lại dành một tình cảm đặc biệt cho những phong cách thơ đã đánh thức được tâm hồn Việt trong lòng người đọc. Đó là cái mà ông gọi bằng biểu tượng “người nhà quê” khi nói về thi sĩ Nguyễn Bính: “Ở mỗi chúng ta đều có một người nhà quê. Cái nghề làm ruộng và cuộc đời bình dị của người làm ruộng cha truyền con nối từ mấy nghìn năm đã ăn sâu vào tâm trí chúng ta. Nhưng - khôn hay dại - chúng ta ngày một lìa xa nề nếp cũ, để hòng đi tới chỗ mà ta gọi là văn minh. Dầu sao, những tư tưởng ta hấp thụ ở học đường cám dỗ ta, những cái phiền phức của cuộc đời mới lôi cuốn ta, nên ở mỗi chúng ta, người nhà quê kia vốn khiêm tốn và hiền lành, ít có dịp xuất đầu lộ diện. Đến nỗi có lúc ta tưởng chàng đã chết rồi. Ở Nguyễn Bính thì không thể. Người nhà quê của Nguyễn Bính vẫn ngang nhiên sống như thường. Tôi muốn nói Nguyễn Bính vẫn còn giữ được bản chất nhà quê nhiều lắm. Và thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong ta. Ta bỗng thấy vườn cau bụi chuối là hoàn toàn tự nhiên của ta và những tính tình đơn giản của dân quê là những tính tình căn bản của ta”. Quả thật, sau rất nhiều thứ cách tân mới lạ về chủ thể phát ngôn, giọng điệu, cấu trúc thơ, tiết tấu, biểu tượng… người ta mới thấy chỉ có điệu lục bát của Nguyễn Bính là gần với tiếng lòng của người Việt nhất ở cả những mong ngóng, thấp thỏm:

Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày 

Bao giờ em mới gặp anh đây? 

Bao giờ chèo Ðặng đi ngang ngõ 

Ðể mẹ em rằng hát tối nay?

(Mưa xuân- Nguyễn Bính)

Đến những hờn trách và thoáng lo âu:

Nào đâu cái yếm lụa sồi? 

Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân? 

Nào đâu cái áo tứ thân? 

Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen? 

(Chân quê- Nguyễn Bính)

Rồi cả những tiếc nuối, kiểu như:

Hội làng còn một đêm nay 

Gặp em còn một lần này nữa thôi. 

(Đêm cuối cùng-Nguyễn Bính)

Nhưng hơn hết là sự gần gũi, mộc mạc bằng những so sánh với đặc tính, không gian, diện mạo của đời sống cư dân nông nghiệp mà ai đọc cũng thấy đồng điệu như chính gia cảnh, đời tư của mình:

Tình tôi mở giữa mùa thu

Tình em lẳng lặng kín như buồng tằm

(Đêm cuối cùng-Nguyễn Bính)

Hoa chanh nở giữa vườn chanh

Thày u mình với chúng mình chân quê

(Chân quê-Nguyễn Bính)

Nếu không gian văn hóa đầu thế kỉ XX, khi những đình, chùa, miếu mạo, cây đa, bến nước, hội hè đình đám còn khá bản nguyên. Ngay cả đến kẻ chợ “băm sáu phố phường” vẫn còn áo nâu, khăn mỏ quạ… giúp người đọc có một điểm tựa tâm hồn để lưu luyến với lục bát Nguyễn Bính thì sau hai cuộc chiến tranh tàn phá, sự thay đổi tư tưởng, ý thức hệ, cảnh quan văn hóa, không gian sinh hoạt lục bát Nguyễn Duy vẫn vững vàng.

Không còn sự quê mùa, mộc mạc của những anh vệ quốc quân thuở nào, người lính trong kháng chiến chống Mỹ phải quen sống với không gian chiến đấu trong buồng lái xe tăng, ngắm bầu trời vuông nhưng tâm hồn, cốt cách Việt vẫn toát lên nguyên vẹn. Bầu trời ấy có khác nhưng vẫn giữ được phong thái, cốt cách của tâm hồn Việt: Biết tự tạo ra sự yên bình giữa muôn vàn hiểm nguy:

Thắng rồi - trận đánh thọc sâu 

Lại về với mái tăng - bầu trời vuông 

Sục sôi bom lửa chiến trường 

Tâm tư yên tĩnh vẫn vuông một vùng 

(Bầu trời vuông- Nguyễn Duy)

Vẫn là màu cỏ xanh hoang dại, mộc mạc ở đường làng, triền đê, bờ hè, men rừng… nhưng qua cái nhìn mang màu sắc triết luận, cỏ vẫn không khô cứng, duy lí mà vẫn thành một vần điệu gần gũi với tâm hồn:

Thời gian như cỏ vượt lên 

Lối mòn như sợi chỉ bền kéo qua 

Ai đi gần ai đi xa 

Những gì gợi lại chỉ là dấu chân.

(Dấu chân qua trảng cỏ- Thanh Thảo)

Bước sang giai đoạn thống nhất đất nước, xây dựng đời sống thời bình với biết bao thay đổi trong tâm lí xã hội. Bảng giá trị đã có những xáo trộn trong cách đánh giá con người. Cái thiện, cái ác được nhìn nhận lại thấu đáo hơn, câu thơ vì thế cũng gai góc, xù xì, đa thanh, đa nghĩa hơn những gì quan thông đơn giản như tiếng nói đồng lòng của thời kháng chiến. Nhưng nhiều hình thái ý thức vẫn còn giữ một khoảng cách với đời sống bởi những hồ nghi, lí giải, thơ ca đã đồng hành với thời cuộc, hạ bệ, hay tụng ca thẳng thắn mà không chút do dự:

Cực kỳ gốc sấu bóng me 

cực ngon cực nhẹ cực nhòe em ơi 

đừng chê anh khoái bụi đời 

bụi dân sinh ấy bụi người đấy em 

 

Xin nghe anh nói cực nghiêm 

linh hồn cát bụi ở miền trong veo 

rủ nhau cơm bụi giá bèo 

yêu nhau theo mốt nhà nghèo... vô tư!

(Cơm bụi ca- Nguyễn Duy)

Thẳng thừng tụng ca “mốt nhà nghèo” bởi đó là sự bộc lộ bản chất của cái thật, cái thô nhám, giống như khi nhà thơ viết về những lo toan mà mỗi khi đọc lại, ai đã từng trải qua những năm tháng đó cũng phải động lòng:

Lương tháng thoảng qua một chút hương trời 

Đồng nhuận bút hiếm hoi gió lọt vào nhà trống 

Vợ chồng ngủ với nhau đắn đo như vụng trộm 

Không cái sợ nào bằng cái sợ sinh con.

(Bán vàng- Nguyễn Duy)

Hay như khi, đã không còn cái gốc quê mùa, trở thành công dân của phố phường bon chen, nhộn nhạo, những tâm hồn yêu đời vẫn cất lên tiếng nói trong trẻo của thơ giữa đời thường:

Nói gì thì kệ người ta

Không em phố chẳng còn là phố đâu

(Đồng Đức Bốn)

Phải chăng, trải qua bao đổi thay của lịch sử, thơ ca Việt Nam vẫn luôn là tiếng nói tâm hồn, vẫn phải là tiếng lòng gọi bao tâm hồn người đọc ngân lên những xao xuyến đồng cảm trước những buồn vui của thời đại mới.

Phương Mai

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại