Văn học dân tộc thiểu số và miền núi thời kỳ đổi mới
29-05-2015 10:20


Nhà thơ dân tộc Tày Hoàng Đức Hậu (1890-1945). Thơ của ông vừa thực vừa hài, người ta đọc lên thì thích thú. Hay là ông tự nhạo mình “Tiểng tồn sláy Hậu mì slư lai/  Doảc khửn doảc lồng khóa khát doài…” (Dịch là: Nghe đồn thầy Hậu nhiều chữ lắm / Lúc ngược lúc xuôi quần rách bươm…). Hoàng Đức Hậu đã sáng tác bằng  chữ Nôm Tày và cả chữ Tày  la- tinh… ông đã để lại nhiều bài thơ có giá trị hiện thực, sâu sắc và hay.

Nhắc tới Đồ Hậu, tức là tôi muốn nói đến hiện thực và tài năng – Hiện thực thì luôn luôn hiện hữu như nó vốn có, văn học phản ánh hiện thực muốn đạt đến độ hay thật sự thì cần phải có tài năng. Hoàng Đức Hậu là một ví dụ, những câu thơ của ông viết về những cái bình thường nhất của cuộc sống đời thường mà làm người đời nhớ mãi…

Trong các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, có rất ít những dân tộc như dân tộc Tày có có tác giả văn học của mình như Hoàng Đức Hậu. Ông đã đạt đến tầm tự nhạo báng mình và luôn luôn phê phán hiện thực xã hội “Nó mảy cạ khôm tọ chằng khôm/ Pây phu hẩư Fan chắng chử khôm” (Dịch: Nò măng bảo đắng chưa phải đắng / Đi phu cho Pháp đắng nghìn lần).

Nhưng đấy là Hoàng Đức Hậu, một nhà thơ dân tộc Tày trước cách mạng. Trong bài viết này, tôi chỉ muốn đề cập sự thay đổi của văn học dân tộc thiểu số và miền núi ở nước ta từ khi đất nước bắt đầu đổi mới 1986 trở về đây, quãng thời gian dài gần ba mươi năm. Trước thời điểm 1986, ở vùng núi, người dân tộc thiểu số đã được đọc tác phẩm “Người trong ống” của nhà văn dân tộc Tày Vi Hồng. Ông Vi Hồng vốn là giảng viên khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Việt Bắc, Thái Nguyên. Có thể nói ông là người đầu tiên đi tiên phong để đổi mới văn học dân tộc thiểu số và miền núi. Trước đó, vào những năm cuối của thập kỷ bảy mươi thế kỷ hai mươi, ông đã cho ra các tác phẩm truyện vừa Đuông Thang và tiểu thuyết Đất bằng đầy hấp dẫn với cách phản ánh hiện thực khác với dòng văn học chính thống chỉ một chủ đề ngợi ca. Ông đã nhìn cuộc sống với nhiều khía cạnh, đa dạng và phức tạp, chứ không phải chỉ ngợi ca một chiều. Đặc biệt ở “Người trong ống” các nhân vật của ông dẫu không phải lấy nguyên mẫu cụ thể trong cuộc sống, hoàn toàn do ông sáng tạo ra nhưng đã gây không ít đụng chạm đến bao người, thậm chí có người đã gửi đơn kiện nhà văn vì thấy nhân vật đó viết đúng về họ. Nhà văn Vi Hồng đã xây dựng những nhân vật đạt đến mức khát quát rất cao nhưng lại mang những nét rất cụ thể của thời đại nên người ta khi đọc tác phẩm của ông đã thấy hình ảnh của mình ở trong đó và tưởng là ông đã viết về họ. Vụ việc lình xình kéo dài khá lâu, về sau tạm giải quyết xong bằng một cuộc hội thảo ở trên tuần báo Văn nghệ của Hội nhà văn Việt Nam. Sở dĩ ông Vi Hồng thành công trong truyện “Người trong ống”, chắc chắn tư tưởng của ông đã thoát ra khỏi những quan niệm chính thống đương thời, sau này nhà nghiên cứu phê bình Hoàng Ngọc Hiến đã gọi dòng văn học chính thống đó là thứ “văn học quan phương”… Ngày nay người ta vẫn nhớ mấy ca dao do ông Vi Hồng sáng tác ứng khẩu về cảnh vật và con người miền núi cao Hà Giang: “Ai đưa tôi đến chốn này/ Bên kia núi Cấm, bên này Mỏ Neo/ Ở giữa là cái cầu treo / Có cô gái trẻ nhảy vèo xuống sông”… Nhà văn Vi Hồng từng kể với tôi rằng, ông đã viết mấy câu ca này trong một ngày sương mù trời, khi ông chứng kiến có một cô gái đi qua cầu treo trên sông rồi nhảy lộn vèo xuống dòng sông chảy xiết.

Từ các sáng tác của Vi Hồng cuối những năm thập kỷ bảy mươi, đầu thập kỷ tám mươi của thế kỷ trước, đã cho thấy văn học dân tộc miền núi đã có những bước chuyển mình để thay đổi. Còn trước đó, kể từ khi có cách mạng thì văn học dân tộc và miền núi chỉ có một chủ đề ngợi ca. Đó là ngợi ca công lao của Đảng và Bác Hồ đã đem lại cuộc sống độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc… Văn học lúc đó đã góp phần làm cho con người miền núi không biết phát huy khả năng sức lực và trí tuệ của mình để làm cho cuộc sống tốt hơn…

Tôi cho rằng, sự đổi mới quan trọng của văn học dân tộc thiểu số và miền núi sau khi nhà nước Việt Nam có chủ trương đổi mới là văn học đã thay đổi đề tài, nhà văn Vi Hồng đã chuyển đề tài trước đó là rất phù hợp. Không còn chỉ một mực ngợi ca, không còn chỉ ngồi đợi nhấm nhá thứ hạnh phúc bánh vẽ, các nhà văn miền núi đã cùng xoay chuyển đề tài sao cho phù hợp với quy luật vận động và phát triển. Đối mặt trực tiếp với họ là cuộc sống bộn bề đầy rẫy những khó khăn gian khổ. Những người bà con dân tộc thiểu số phải làm cật lực mới có ăn, phải dùng sức đào thật lực mới có đường để đi. Tôi lúc đó đã viết những câu thơ “Đồng bằng rộng tựa bên nào cũng trống/ Cỏ cây cũng hát lời của quỷ/ Biết làm sao bây giờ”. Nhưng tôi cũng lại điềm tĩnh viết: “Người sinh ra trên núi/ Cầm dao tự phát lối cho mình”… Số phận của biết bao con người cũng như số phận của riêng tôi là luôn luôn dằn vặt, thắc mắc và tự hỏi chính mình, để rồi tự quyết định con đường nghệ thuật cho mình đi. Tác phẩm đầu tay của tôi là các tập thơ: Cưỡi ngựa đi săn – 1989; Đi tìm bóng núi 1993… Sau đó là Đi ngược mặt trời; Mười hai con vía; Con côi làm dâu; Hát với sông Năng; Đêm bên sông yên lặng; Mười bảy khúc đảo ca; Lính Trường Sa thích đùa; Bà lão và chích chòe; Chia trứng công, Sự tích hồ Ba Bể, Ngựa đen ngựa đỏ… để sau đó làm thành bộ Tuyển tập Dương Thuấn với ba tập “Tập I: Bản Hon và những nơi khác”, Tập II: Thơ tình; Tập III: “Thơ viết cho thiếu nhi” Tôi đã viết hàng ngàn trang thơ với cảm xúc hoàn toàn mới và đề tài cũng rất mới. Câu nói “Hãy tự cởi trói cho mình…” của cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh khi đó đã đem đến cho cả nước một không khí sáng tạo mới  tuy hơi muộn so với sự tự phát sáng tạo của một mình nhà văn như Vi Hồng trước đó,  nhưng đã thực sự từ đó đã làm cho cả đất nước, xã hội và đặc biệt là văn học nhanh chóng chuyển mình.

Các bài bút ký “Thầy giáo đại học”, “Trí thức tỉnh lẻ”… của nhà văn Hoàng Quảng Uyên dân tộc Nùng cũng đã đem lại không khí mới làm xôn xao văn đàn lúc ấy. Chỉ tiếc,  khả năng viết bút ký nhanh nhạy và trực tiếp phản ánh những vấn đề nóng bỏng của xã hội đã không được anh tiếp tục. Anh đã chuyển sang viết các tiểu thuyết lịch sử cách mạng nhiều tập không gây được tiếng vang như trước.

Theo tôi, sự đổi mới của văn học dân tộc miền núi từ 1986 đến nay là sự thay đổi về đề tài và hiện thực phản ảnh, các tác giả đã có ý thức về thiên chức của nhà văn rõ ràng hơn. Sự thay đổi về tài phản ánh và thế giới quan của người cầm bút là vấn đề quan trọng hơn tất cả. Chính nhờ điều đó đã làm nên diện mạo văn học dân tộc thiểu số và miền núi hiện nay hoàn toàn khác trước… Nếu như trước kia, các tác giả dân tộc thiểu số và miền núi chỉ sáng tác bằng tiếng dân tộc rồi tự dịch sang tiếng Kinh rất ngô nghê thì nay tôi đã chọn cách sáng tác bằng song ngữ để tác phẩm đến với độc giả người Kinh dễ dàng và nhanh hơn, người đọc sẽ không còn cảm thấy sự vất vả cực nhọc khi đọc thơ dân tộc thiểu số và miền núi như trướcc đây. Theo tôi, đây cũng là một điểm đổi mới quan trọng của văn học dân tộc thiểu số và miền núi.

Trong văn xuôi, tuy các văn nghệ sĩ dân tộc thiểu số sớm đổi mới, nhưng sự tiếp tục chưa đạt được phát triển để trở thành trào lưu mạnh mẽ và rộng lớn. Mặc dù nhà văn Vi Hồng đã viết hàng chục tiểu thuyết và hàng trăm truyện ngắn… Tác giả người Kinh miền núi là Cao Duy Sơn với các tác phẩm truyện ngắn Ngôi nhà xinh bên suối, tiểu thuyết Đàn trời ở miền núi Cao Bằng cũng đã đạt được một số thành tựu đáng kể tiếp theo sau nhà văn dân tộc Tày Vi Hồng. Hoặc cố nhà văn Nguyễn Trường Thanh ở Lạng Sơn, hay nhà văn Đoàn Hữu Nam ở Lào Cai, Nguyễn Hiền Lương ở Yên Bái, Trịnh Thanh Phong ở Tuyên Quang, Đỗ Thị Tấc (Lai Châu), Thu Loan, Ngô Thanh Vân (Gia Lai)…

Bên cạnh một số tác giả đã nói ở trên, còn có nhiều tác giả khác của nhiều dân tộc Tày cũng có những đóng góp đáng kể làm cho diện mạo văn học dân tộc thiểu số và miền núi rõ ràng hơn. Dân tộc Tày có: Dương Khâu Luông, Hoàng Chiến Thắng, Bùi Thị Ngọc Lan, Nông Tô Hường (Bắc Kạn); Nông Thị Ngọc Hòa (Phú Thọ); Đoàn Lư, Đoàn Ngọc Minh, Bế Phương Mai, Nguyễn Hữu Tiến (Cao Bằng); Tạ Thu Huyền (Lào Cai); Hoàng A Sáng (Hà Nội), Hoàng Thị Kim Dung (Lạng Sơn); Hà Lâm Kỳ, Hoàng Hữu Sang (Yên Bái); Dân tộc Ê đê có: Niê Thanh Mai (Đắc Lắc); Dân tộc Ba Na có: Kim Nhất; Dân tộc Hrê có: Hơ vê; Dân tộc Hà Nhì có: Chu Thùy Liên (Điện Biên); Dân tộc Dao có: Triệu Kim Văn (Bắc Kạn), Tằng A Tài (Quảng Ninh); Dân tộc K’ho có: Ka Ra Jan Plin (Lâm Đồng); Dân tộc Vân Kiều có: Hồ Chư (Thừa Thiên - Huế)…

Văn học dân tộc thiểu số và miền núi của Việt Nam kể từ khi đổi mới đến nay đã thay đổi cơ bản về chất lượng, đặc biệt là sự thay đổi về đề tài và cách thể hiện. Hiện thực phản ánh trong các tác phẩm đa chiều, đa diện và phức tạp hơn, gần gũi với con người hơn, nhân bản hơn… Đặc biệt là trình độ nghệ thuật được nâng cao lên rõ rệt. Chính nhờ có sự đổi mới đạt được những thành tựu quan trọng như thế, nên văn học dân tộc thiểu số và miền núi đã nhanh chóng hòa nhập vào nền văn học chung của cả nước cũng như văn học thế giới. Chúng ta hôm nay hoàn có thể khẳng định rằng: văn học dân tộc thiểu số và miền núi trong những năm đổi mới đã đạt được những thành tựu rất đáng kể. Điều đó không ai có thể nói khác được. Đến nay, sự đổi mới của văn học dân tộc thiểu số và miền núi vẫn đang tiếp tục, bởi sự vận động đổi mới không ngừng là để luôn luôn có một sức sống mới mạnh mẽ để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển.

Dương Thuấn
Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại