Văn học VN đương đại, sản phẩm văn hóa trong nền kinh tế thị trường
15-05-2015 11:05


(Toquoc)- Đất nước tiến hành đổi mới (1986), chuyển sang nền kinh tế thị trường đánh dấu quá trình văn chương trở thành hàng hóa một cách mạnh mẽ trong nhu cầu, thị hiếu tiêu dùng của con người đương đại. Ý thức được điều này tạo nên cơ sở nhận thức hoặc trở lại bồi đắp nhận thức về đổi mới, từ đó thấy được bản chất, quy luật của đời sống từ việc tiếp cận văn học Việt Nam đương đại.

Thế giới được nhà văn kiến tạo mang màu sắc chủ quan của anh ta nhưng không thể tách rời, biệt lập với những mô thức, tâm thức, văn hóa truyền thống, dân tộc, thời đại. Bởi thế, khi là một thứ hàng hóa trong nền kinh tế thị trường, văn học Việt Nam đương đại vừa phải đảm đương sứ mệnh trọng yếu là nghệ thuật, lại vừa phải đáp ứng thị hiếu của công chúng - khách hàng của văn học. Chính từ những nhu yếu như vậy, văn học Việt Nam đương đại đã tạo nên một không gian văn học mới - có thể gọi là văn học tiêu dùng. Hơn bao giờ hết, chúng ta đang sống trong thời đại mà văn hóa, văn học trở thành hàng hóa để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng của con người như các sản phẩm sinh hoạt vật chất và tinh thần khác khác. Phải chăng đang tồn tại một nền văn học đại chúng, chiếm vị thế chủ đạo trong đời sống văn học của không chỉ ở Việt Nam mà mang tính toàn cầu? Cơ chế thị trường và những tác động to lớn của nó đến con người (trong tư cách chủ thể sáng tạo, tiếp nhận - chủ thể sản sinh và tiêu thụ văn hóa) đã dần khai sinh một hình thái văn học như là một sản phẩm của thời đại tiêu dùng. Nhận diện hình thái văn học thời đại tiêu dùng, sự dịch chuyển chức năng, ý nghĩa của văn học, sản xuất, quảng bá, lưu thông và tiếp nhận văn học thời đại tiêu dùng, sự thay đổi các hệ giá trị, thị hiếu thẩm mĩ của con người cũng như những nhu cầu văn hóa mà họ đang đòi hỏi trong bối cảnh kinh tế thị trường, hội nhập và toàn cầu hóa, hiệu quả thẩm mĩ, hiệu quả xã hội của văn học đại chúng đối với con người trong kỷ nguyên tiêu dùng, thái độ của cộng đồng đối với văn học thời đại tiêu dùng như thế nào… cũng trở thành những mối quan tâm thường trực của nhà phê bình và công chúng văn học đương đại. Có thể nhận thấy tác động của văn học Việt Nam đương đại trong tư cách là một sản phẩm văn hóa thời đại tiêu dùng ở một số phương diện như: Nó xác lập khái niệm văn học thời đại tiêu dùng - Văn học thời đại tiêu dùng là gì? Nó lên tiếng về ý nghĩa của văn học thời đại tiêu dùng, sự lưu thông văn học thời đại tiêu dùng (lưu thông hàng hóa, lưu thông ý nghĩa, giá trị thẩm mĩ)… Bên cạnh đó, sự nhận diện chủ thể sáng tạo, đề tài, chủ đề, cảm hứng, sự lựa chọn thể loại và cách thức biểu đạt, hình thức lưu hành… của văn học đương đại cũng khiến chúng ta hiểu hơn về con người, cuộc sống đương đại. Và, một khi đã bước chân vào thị trường, văn học thời đại tiêu dùng không thể đứng ngoài những thiết chế về truyền thông, quảng bá, PR thu hút khách hàng, đặc biệt là lợi nhuận… Văn học trở thành một thử biểu, một thang đo về giá trị quan và tâm thế, thị hiếu của con người thời đại tiêu dùng đối với văn học và các vấn đề văn hóa, xã hội… Đồng thời, từ văn học, những dự báo về khuynh hướng tiêu thụ sản phẩm văn hóa, văn học của con người trong tương lai cũng dần được nhận diện.

Nếu đứng từ góc độ Xã hội học có thể thấy văn học Việt Nam đương đại sự kiện Xã hội học. Đặt trong tính toàn thể của nó, những nghiên cứu xã hội học về tâm lý sáng tạo, tâm lý tiếp nhận các sản phẩm văn học thời đại tiêu dùng (Sự chuyển hóa từ hành vi tiêu dùng trở thành hành vi văn hóa trong tiếp nhận văn học thời đại tiêu dùng)/ Sự hình thành nhân cách của thanh thiếu niên trong quá trình tiếp cận các giá trị từ văn học thời đại tiêu dùng, phản hồi xã hội đối với các hiện tượng văn học đại chúng nổi bật (Tiếp nhận)/ Tác động của thời đại tiêu dùng đối với văn học, tác động của văn học thời đại tiêu dùng đối với văn hóa, đạo đức, nhân cách, thị hiếu thẩm mĩ của con người, thời đại tiêu dùng và những vấn đề về giá trị quan của thời đại/ Đô thị hóa, toàn cầu hóa và vấn đề sản phẩm văn hóa, văn học cho con người trong thời đại tiêu dùng… là những chủ điểm xã hội học văn học lý thú, hữu ích cho việc nghiên cứu, nhận diện và định dạng, định danh một hiện tượng văn hóa, văn học. Từ sự nhận diện cụ thể đó, văn học sẽ đem lại cái nhìn linh hoạt hơn về chức năng, nhiệm vụ, sứ mệnh của nó trong thời đổi mới và hội nhập.

Từ góc độ Ngôn ngữ học, những nghiên cứu về ngôn ngữ trong văn học thời đại tiêu dùng/ Tác động của ngôn ngữ văn học đại chúng tới đời sống ngôn ngữ cộng đồng, dân tộc/ Khả năng hành chức của ngôn ngữ trong văn học thời đại tiêu dùng/ Vấn đề ngôn ngữ cá nhân - biệt ngữ cá nhân và ngôn ngữ đại chúng trong văn học thời đại tiêu dùng… cũng là điều đáng quan tâm, cho thấy sức tác động của văn học đến đời sống, văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam.

Từ góc độ Triết học, văn học thời đại tiêu dùng đặt ra vấn đề sự thay đổi các hệ giá trị của con người - Vũ trụ quan, nhân sinh quan, lối sống - lẽ sống, quan niệm về giá trị của con người thời đại tiêu dùng/ Về mối quan hệ giữa văn hóa, văn học thời đại tiêu dùng với việc hoạch định đường lối phát triển văn hóa dân tộc trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế - Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc/ Vấn đề truyền thống và hiện đại nhìn từ văn học thời đại tiêu dùng/ Vấn đề tư tưởng, đạo đức, nhân cách của con người nhìn từ văn học thời đại tiêu dùng/ Văn học tiêu dùng và vấn đề triết học liên văn hóa trong thời mở cửa, hội nhập… Đánh giá về văn học trong thời đại tiêu dùng, Tưởng Thuật Trác cho rằng: “Trong thời đại tiêu dùng ngày nay, văn học đang đứng trước hai vấn đề lớn: Một là văn học thời đại tiêu dùng rốt cuộc là cái gì? Hai là ý nghĩa của văn học thời đại tiêu dùng là thế nào? Về vấn đề thứ nhất, mấy năm trước đây đã có nhiều thảo luận, tuy chưa đi tới một định luận song đã thấy được đường hướng mới. Còn vấn đề thứ hai, tức ý nghĩa của văn học thì nhiều nhà phê bình, nhà lý luận tỏ ra lo ngại: một là văn học nghệ thuật bị trở thành hàng hoá sẽ mất đi ý nghĩa văn học nghệ thuật, nhất là ý nghĩa giáo dục. Hai là trong quá trình kích thích tiêu dùng, các lĩnh vực khác sẽ vay mượn hoặc lợi dụng văn học nghệ thuật để thẩm mĩ hoá cuộc sống đời thường, sẽ làm cho “chất thơ” của văn học nghệ thuật loãng ra, làm mất đi sự hấp dẫn của văn học nghệ thuật. Ba là văn học nghệ thuật bị hàng hoá hoá sẽ mất đi tính sáng tạo và cả tính sáng tác, dẫn đến chỗ mất đi ý nghĩa của văn học[1]. Đây là những vấn đề lớn của văn học đương đại không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới. Nó cho thấy sự tác động của văn học đến con người, đời sống, buộc người ta phải chú ý đến nó, mô tả, lý giải, đánh giá nó trong lịch sử tồn tại của nhân loại. Từ góc độ văn hoá kinh tế quá trình lưu thông hàng hoá văn học nghệ thuật không chỉ có lưu thông tiền của mà cũng có sản sinh và lưu thông ý nghĩa, sự thích thú và tư cách xã hội, cho nên độc giả (hoặc người cảm thụ) cũng có tiếp nhận được những thứ đó. Họ sẽ chọn lựa loại văn học nghệ thuật nào đó là quan niệm về giá trị văn hoá của họ. Ý nghĩa và sự thú vị của văn học nghệ thuật trong quá trình lưu thông có khi nhiều khi ít, khi mạnh khi yếu, song không phải do lưu thông mà chủ yếu do bản thân nó. Từ góc độ truyền bá mà xét thì văn học nghệ thuật là thứ hàng hoá trao đổi càng nhiều thì ảnh hưởng ý nghĩa càng lớn, hiệu ích xã hội của nó càng nhiều, giá trị xã hội của nó cũng tăng lên. Nếu có được nhiều cơ hội trao đổi, lưu thông thì văn học nghệ thuật ở tư cách hàng hoá càng phải suy nghĩ nghiêm túc về giá trị nghệ thuật và ý nghĩa xã hội của mình, vì hàng hoá nghệ thuật mà dở chỉ khiến khẩu vị của người tiêu dùng chán ngán và sẽ nhanh chóng bị đẩy ra khỏi thị trường. Ở khía cạnh kinh doanh, nghệ thuật thành hàng hoá cũng phải dựng cho mình một ý thức về thương hiệu, phải làm sao càng tinh xảo đẹp đẽ, thu hút được nhiều người tiêu dùng[2].

Trong sự vận động của đời sống tiêu dùng, rõ ràng, văn học đã tìm thấy một cơ chế mới, một cách vận hành chức năng, sứ mệnh của mình trong không gian đương đại. Mỗi thời đại đều có hình thức của nó. Bởi vậy, văn học Việt Nam đương đại, trong tư cách là một sản phẩm văn hóa, đã cho thấy những bước chuyển về hình thái tương ứng của nó với thời đại này. Vấn đề đặt ra là khi trở thành sản phẩm, hàng hóa, thì chất lượng nghệ thuật của văn học Việt Nam có bị ảnh hưởng không? Các nhà nghiên cứu cũng đã đặt ra vấn đề này. Tuy nhiên, trong một cách hiểu có tính biện chứng nhất về quy luật tồn tại, khi là sản phẩm, văn học cũng phải đáp ứng các tiêu chuẩn, tiêu chí về chất lượng, nội dung, hình thức, các cách thức quảng bá, PR… Chạy theo lợi nhuận đôi khi làm biến dạng phương thức tồn tại có nghĩa lý của văn chương. Nhưng, như đã nói, thời đại nào cũng có hình thức riêng của nó, và những gì đang diễn ra đối với văn học đương đại Việt Nam hoàn toàn có thể lý giải từ bối cảnh, nhu cầu, tâm thế của con người, cuộc sống đương đại.

Văn học thời đại tiêu dùng đặt ra vấn đề về mối quan hệ của giá trị văn chương nghệ thuật với giá trị kinh tế, lợi nhuận hàng hóa. Điều này đường như đang tạo ra mâu thuẫn trong đời sống văn học. Một điểm dễ nhận ra trong thị trường sách Việt Nam đó là những tác phẩm văn học kinh điển của thế giới và Việt Nam thường bán rất chậm, nếu không nói là ế ẩm. Trong khi, các tác phẩm ngôn tình, chạy theo thị hiếu có phần dễ dãi của công chúng, nhất là giới trẻ lại bán khá chạy. Trước tình trạng này, có người đã lo lắng về văn hóa đọc xuống cấp không phải đến từ những người ít đọc sách mà lại đến từ những người đọc nhiều, đọc các tác phẩm có chất lượng nghệ thuật, tư tưởng thấp nhưng chiều chuộng và ve vuốt thị hiếu của đám đông. Cách sống, ứng xử, lời nói, việc làm, cách ăn mặc, lớn hơn là nhân cách, đạo đức của giới trẻ hiện nay bị ảnh hưởng rất nhiều bởi những tác phẩm ngôn tình, những bài hát, bộ phim thị trường… khiến cho những bậc làm cha mẹ, những người có trách nhiệm với công việc giáo dục cảm thấy lo lắng, bất an. Thế nhưng, giới trẻ hoàn toàn có quyền biện hộ cho mình trong việc tự do tìm đến những sản phẩm, hàng hóa phục vụ nhu cầu, thị hiếu của họ. Mỗi thế hệ có những thị hiếu, chuẩn mực riêng không thể áp đặt cho nhau. Mặt khác, trong thời đại mà con người cảm thấy mỏi mệt với trăm ngàn công việc bộn bề, tìm đến sách và các hình thức giải trí khác trước hết thỏa mãn nhu cầu được xả Stress, được thư giãn, được thoát khỏi những căng thẳng của nỗi lo cơm áo, gạo tiền, địa vị, quyền lực, sinh tồn… Có khi, cuốn sách chỉ đơn giản làm một việc giúp họ mỏi mắt và chìm vào giấc ngủ. Để đáp ứng nhu cầu đó, không lẽ nhà văn (người viết) lại dày công sáng tạo những hình tượng có chiều sâu tư tưởng và giá trị nghệ thuật mà người đọc phải có tri thức, tầm đón nhận cao mới tiếp cận được? Chất lượng nghệ thuật, chức năng thẩm mỹ, giáo dục của văn học rõ ràng bị tiết giảm để thay vào đó là chức năng giải trí (trong thực tế thì việc rạch ròi chức năng này đã thể hiện sự cứng nhắc và chiết trung). Người đọc có quá nhiều sự lựa chọn các hình thức giải trí cho mình, nên để cạnh tranh, tìm cách lọt vào tầm ngắm của công chúng, văn học phải trương mình ra, phát huy, tận dụng hết những chiêu tiếp thị mang đậm màu sắc thị trường như: quảng cáo, gây chú ý bằng tên sách, cách thức trình bày, minh họa, bìa, giấy, khuôn khổ, thậm chí là Font chữ (hình thức sản phẩm), đề cập đến những vấn đề Sex, Sốc, Sến, Dị… Văn học từ địa vị của một hình thái thuộc thường tầng kiến trúc, trong nền kinh tế thị trường, khi là hàng hóa, văn học buộc phải chấp nhận trở thành sản phẩm, thương phẩm, nghĩa là chấp nhận là hạ tầng cơ sở, đáp ứng nhu cầu “thuận mua vừa bán” của “Thượng đế” (về bản chất, mối quan hệ này không tách biệt). Và như thế, đòi hỏi về giá trị tư tưởng, nghệ thuật bị giảm đi là dĩ nhiên để các bình diện khác nổi lên hoàn thiện yêu cầu là một thương phẩm với đòi hỏi sức mạnh và khả năng cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường. Câu chuyện bán được hay không bán được, lợi nhuận hay thua lỗ mới là trọng tâm của việc làm sách trong bối cảnh thị trường. Giá trị tư tưởng, nghệ thuật, tinh thần nhường chỗ cho giá trị hàng hóa, biểu thị bằng lợi nhuận là điều mà các bên tham gia vào chuỗi sáng tác, in ấn, phát hành, lưu thông… quan tâm.

Nền kinh tế thị trường tập trung vào vấn đề tự do thương mại nên để sống được, tồn tại được trong cơ chế cạnh tranh khốc liệt, sách văn học nói chung và văn học Việt Nam nói riêng cần phải hướng đến thị hiếu, cái mà công chúng - khách hàng quan tâm chứ không phải là chiến lược xây dựng hệ giá trị tinh thần, thẩm mĩ tinh túy và bền vững. Bởi thế, văn học đại chúng đã không đi cùng đường với văn học tinh anh, thậm chí còn chèn ép, đẩy văn học tinh anh vào các sạp hàng giảm giá một cách thảm hại. Sâu xa hơn, tính thời vụ, ăn liền của văn học tiêu dùng cũng làm cho các giá trị tinh hoa bị quên lãng, bị thờ ơ. Đáng lo ngại nữa là khi công chúng với thị hiếu dễ dãi sẽ rất ngại, rất khó tiếp cận các tác phẩm kinh điển. Và như thế, trong một cảnh tượng không xa, những vấn đề Xã hội học, Ngôn ngữ học, Triết học mà chúng tôi nêu lên ở đầu bài viết sẽ dịch chuyển theo hướng thị trường, đại chúng bởi chính sự tác động của dòng văn học thị trường đang phát triển ồ ạt hiện nay.

Chất lượng, giá trị tinh hoa của văn học với tư cách là một hình thái ý thức thẩm mĩ rõ ràng bị suy giảm bởi yêu cầu của việc kinh doanh, của tác động thị trường, lợi nhuận. Tuy nhiên, như chúng tôi đã nói, văn học thị trường không phải là hiểm họa nếu chúng ta quan niệm rằng đó là một biểu hiện cho tính phong phú, sinh động của đời sống. Bởi vậy, cùng với việc tôn trọng thị hiếu của độc giả, sự nỗ lực đưa văn học tinh anh đến với công chúng cũng là hoạt động cần thiết để có một tình thế khả dĩ tránh được những bất an về văn hóa đọc. Mặt khác, giới trẻ và công chúng ưa chuộng văn học thị trường cũng chỉ là một bộ phận độc giả bên cạnh những hệ thống khác. Do vậy, cần phát huy tinh thần định hướng từ nhà trường, gia đình và bộ phận độc giả tinh anh để làm phong phú thị hiếu của công chúng nói chung và độc giả phổ thông nói riêng.

Nguyễn Thanh Tâm

 



[1] Tưởng Thuật Trác, Văn học trong thời đại tiêu dùng, Phạm Thị Hảo dịch, Tạp chí Sông Hương, số 227, 1/2008.

[2] Tưởng Thuật Trác, bđd.

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại