Xác định thế hệ nhà văn để thấy rõ về lịch sử văn học
29-04-2016 02:24


(Tổ Quốc)- Câu chuyện thế hệ nhà văn là một câu chuyện lớn và không dễ trả lời. Nhân dịp diễn ra Hội thảo khoa học quốc gia “Thế hệ nhà văn sau 1975” báo điện tử Tổ Quốc đã có cuộc phỏng vấn với nhà lý luận phê bình văn học Chu Văn Sơn - người đã đọc đề dẫn quan trọng tại Hội thảo.

Xác định thế hệ nhà văn để thấy rõ về lịch sử văn học - ảnh 1

+ Với chủ đề của cuộc Hội thảo khoa học quốc gia: “Nhận diện thế hệ nhà văn sau 1975”, xin hỏi nhà Lý luận phê bình văn học Chu Văn Sơn, đến thời điểm hiện nay - năm 2016 đã “đủ” để nói nói về thế hệ nhà văn sau 1975 chưa?

- Từ 1975 đến 2016, vị chi là 41 năm, thiếu ít năm nữa thôi là tròn nửa thế kỉ đấy. Theo chị, thời gian ngót nửa thế kỉ ấy đã đủ dài đủ rộng cho việc hình dung về một thế hệ văn học chưa? Là nói vậy, chứ trong việc này thời gian chỉ là một đại lượng rất tương đối. Tôi không rõ trong các lĩnh vực khác, người ta cần bao nhiêu thời gian để xác lập một thế hệ. Còn trong văn học thì khá co giãn. Có khi để vẽ ra được gương mặt một thế hệ, phải cần có khoảng thời gian rất dài, thậm chí dài cả thế kỉ. Thời Nguyễn Du là thế. Nhưng cũng có khi chỉ chừng chín, mười năm đã đủ cho một thế hệ lẫy lừng rồi. Thế hệ Thơ mới của những Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương, Bích Khê… là thế. Thế hệ chống Pháp của những Trần Mai Ninh, Nguyễn Đình Thi, Quang Dũng, Nguyên Ngọc, Hoàng Cầm, Chính Hữu, Nguyễn Khải, Hoàng Trung Thông, Vũ Cao… cũng là thế. Riêng chặng sau 1975 đến nay, do sự vận động mau lẹ của đời sống, tác động rất chóng vánh của “thế giới phẳng” và nội lực vốn dồi dào của văn học ta, tôi nghĩ, những gì diễn ra trong thực tiễn văn học đã đủ cho ta hình dung về gương mặt vài thế hệ mới rồi ấy chứ.

+ Theo ông thì Thế hệ nhà văn sau 1975 được tính như thế nào? sinh sau 1975, hay sau 1975 đã trưởng thành?

- Cám ơn bạn, cái câu hỏi này chạm vào mấu chốt của vấn đề chính đây. Giải quyết cho ra nhẽ, không hề dễ dàng. Nó là một trọng điểm bàn thảo trong hội thảo. Chắc chắn xung quanh chuyện này sẽ có nhiều ý kiến quan điểm khác nhau, không dễ đồng thuận. Phần vì bản thân việc phân định thế hệ trong văn học vốn không đơn giản, phần vì góp nên diện mạo văn học ở chặng đường này cũng có những đứt gẫy, giao nối, đan xen khá ràng rịt của nhiều lớp người cầm bút khác nhau, về tuổi đời lại thuộc nhiều thế hệ khác nhau. Ban tổ chức dùng cụm từ “Thế hệ nhà văn sau 1975” làm tiêu đề của hội thảo này không phải như một vấn đề đã xác định mà là vấn đề cần minh định. Vì thế, chúng ta có thể hy vọng được nghe từ Hội thảo những quan điểm khác nhau cùng những kiến giải khoa học khác nhau gợi ra được nhiều chiều nhận thức xung quanh một vấn đề. Tôi cho đó mới là lợi ích thực sự của một hội thảo khoa học. Vì thế về mốc thời gian, những cụm từ như “thế hệ sinh sau 1975”, hay “trưởng thành ngay sau 1975”… chắc chắn cũng sẽ là những khía cạnh được đề cập trong bàn thảo.  

+ Khi “Nhận diện thế hệ nhà văn sau 1975” ngoài căn cứ về mặt thời gian thì có phải căn cứ vào nội dung tác phẩm không thưa ông?

- Thời gian, lứa tuổi chỉ là tiêu chí phụ. Tiêu chí chính vẫn phải là sáng tác. Thường thường, xác định một thế hệ, thì quen thuộc nhất và cũng giản đơn nhất là căn cứ vào lứa tuổi và thời điểm nhập cuộc. Hình như trong quân đội hồi trận mạc, mỗi thế hệ cầm súng thường được xác định theo tiêu chí này thì phải. Nhưng trong giới cầm bút thì không hẳn. Ví như Trần Đăng Khoa, về tuổi đời so với thế hệ chống Mỹ, thì thuộc hàng em út. Nhưng xét về hoạt động văn học, thì tác giả “Góc sân và Khoảng trời” vẫn thuộc lứa chống Mỹ. Tập “Góc sân và Khoảng trời” vẫn là tập thơ quan trọng góp nên diện mạo thơ ca của cái thời giặc giã đó.

+ Vậy theo ông chúng ta nhận diện Thế hệ nhà văn sau 1975 để làm gì?

- Mỗi một thế hệ thực sự có tiếng nói trên văn đàn thì bao giờ cũng có gương mặt nghệ thuật riêng, cùng với nó là những đóng góp riêng đối với tiến trình văn học dân tộc. Chưa tự họa được gương mặt đó, chưa thuyết phục được về những đóng góp riêng có, thì xem như chưa thực sự có một thế hệ văn học. Xác định được rành rẽ những thế hệ văn học thì mới thấy được rõ các bước đi của lịch sử văn học. Mục đích của hội thảo cũng là góp phần giải quyết vấn đề này.

+ Hội Nhà văn Việt Nam có dự kiến đến tháng 6 này sẽ diễn ra Hội nghị Lý luận phê bình văn học để bàn về văn học sau 30 năm đổi mới, tính từ 1986. Vậy theo ông, nếu căn cứ vào mốc 1986 và những đổi mới về tư tưởng nghệ thuật thì thế hệ nhà văn sau 1975 có bị chia tách thành nhiều giai đoạn khác nhau không?

- Trong một chặng đường văn học có thể có sự góp mặt của nhiều thế hệ và một thế hệ văn học có thể “vắt” qua nhiều mốc khác nhau, bước trên nhiều chặng đường khác nhau. Ví như, 1945 là cái mốc lớn phân lập hai chặng đường rất xác định của văn học hiện đại, mỗi chặng có những thành tựu khác biệt. Nhưng thế hệ chủ chốt của chặng trước 1945 với những Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Nam Cao, Thế Lữ, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư… vẫn “vắt” mình sang các chặng sau để tiếp tục tỏa sáng như một lực lượng đáng kể. Cho nên, mô tả một chặng đường văn học của cả nền văn học có sự thống nhất nhưng không đồng nhất với mô tả một thế hệ văn học. Xét về giai đoạn thì những cái mốc như 1975 (kết thúc chiến tranh thống nhất đất nước) hay 1986 (khởi động Đổi mới cởi trói cho văn nghệ sĩ) đều là những mốc rất quan trọng. Sau những mốc ấy, văn học đều có những chuyển biến rõ rệt với nhiều khác biệt so với những gì trước đó, đặc biệt là mốc 1986 mở ra cao trào Đổi mới. Nhưng xét về thế hệ văn học, thì các thế hệ sáng tạo không hoàn toàn “nằm gọn” trong từng chặng mốc như thế. Lớp người viết được gọi là Thế hệ nhà văn sau 1975, tất nhiên, cũng không “nằm gọn” như thế. Họ trưởng thành từ sau 1975, nhưng gương mặt nghệ thuật của họ chỉ thực sự tỏ rạng, tỏa sáng từ sau 1986.

Có thể nói thêm, hội thảo Thế hệ nhà văn sau 1975, tập trung xác định gương mặt của một lớp người viết, sẽ không “đụng hàng” với hội thảo nhằm tổng kết một chặng đường phát triển của cả một nền văn học vào tháng 6 này do Hội Nhà Văn chủ trương. Trái lại, nó còn là một phần việc cần thiết, một căn cứ quan trọng để làm cái việc được xem là tổng kết chặng đường 30 năm đổi mới văn học mà hội thảo của Hội Nhà Văn đề ra.

- Xin cảm ơn những trao đổi của nhà lý luận phê bình Chu Văn Sơn.

 

“Lâu nay rất nhiều nơi tổ chức hội thảo lấy cái tứ là “đổi mới”. Câu chuyện đổi mới đương nhiên là rất quan trọng. Nhưng cái “tứ hội thảo” như vậy cũng đã bị lặp lại rồi, không còn đủ mạnh để tạo hấp dẫn đối với giới nghiên cứu nữa. Đã đến lúc cần phải nhận diện thế hệ, trước hết là thế hệ nhà văn sau 1975, tức là thế hệ ngay sau chống Mỹ, được sinh ra vào khoảng nửa cuối 5x và 6x.

Tứ của Hội thảo ở đây là câu chuyện thế hệ. Mà thế hệ ở đây có một số điểm cần được đặt ra: tiếp nối thế hệ trước như thế nào, vượt thoát thế hệ trước như thế nào, đóng góp của thế hệ này thế nào, và những giới hạn của thế hệ này ra sao.

Thế hệ này được tính là sau 1975 họ bắt đầu cầm bút và khẳng định” - nhà lý luận phê bình Văn Giá chia sẻ với báo điện tử Tổ Quốc.


Hiền Nguyễn (thực hiện)

 

 

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại