Tôn vinh văn chương phỏng vấn điều tra và hồi ức
18-10-2015 12:45

Còn nhớ Giải Nobel văn chương 2014, nhà văn người Pháp Patrick Modiano là người ít được biết đến, nhưng đã vượt qua hàng loạt những ứng viên sáng giá khác như: Haruki Murakami (Nhật Bản), Ngugi Wa Thiong'o (Kenya), Svetlana Alexievich (Belarus), Adonis (Syria), Ismail Kadare (Albania)... để bước lên ngôi vị cao nhất của Giải văn chương danh giá nhất hành tinh, khiến dư luận không khỏi bất ngờ. Còn năm nay, với việc Giải Nobel Văn chương xướng tên nữ nhà văn Belarus Svetlana Alexievich vào ngày 8/10/2015 lại có vẻ như không nằm ngoài dự đoán, mặc dù bà cũng đã phải vượt qua nhiều đối thủ nặng ký khác.

Tôn vinh văn chương phỏng vấn điều tra và hồi ức - ảnh 1
Nhà văn Svetlana Alexandrovna Alexievich (ảnh Internet)

 

Những ứng viên nặng kí cho Giải Nobel văn chương 2015

Trước tiên phải kể đến một cái tên khá quen biết và đã từng 3 lần là ứng viên nặng kí cho giải văn chương danh giá này là nhà văn người Nhật Bản Haruki Murakami. Ông đã từng trở thành hiện tượng trong văn học Nhật Bản đương đại với không ít các mĩ từ dành cho ông. Nào là nhà văn được yêu thích, nhà văn bestseller, nhà văn của giới trẻ. Tuy nhiên, bên cạnh đấy cũng không ít lời dèm pha từ các nhà chuyên môn và dư luận. Chẳng hạn như có người cho rằng văn của Murakami chưa đủ đẳng cấp để được nhận Giải Nobel.

Tác giả Rừng Na Uy, Biên niên ký chim vặn dây cót, 1Q84... đã từng là ứng viên đầu tiên trong nhiều năm xứng đáng nhận được giải Nobel Văn chương. Trớ trêu đây là lần thứ tư ông đành phải lỗi hẹn.

Tiếp đến là Ngugi wa Thiong’o, một nhà văn người Kenya. Ngay từ những năm 70 của thế kỷ trước, ông đã từng nổi tiếng với cuốn tiểu thuyết bằng tiếng Anh mang tên “Weep not, Child” (tạm dịch: Đừng khóc, các em). Trong vài năm trở lại đây, ông luôn là người có mặt trong top 3 ứng viên cho giải Nobel văn chương. Thậm chí, cách đây 2 năm, 2013, trả lời phỏng vấn hãng tin TT của Thụy Điển, ai sẽ giành chiến thắng giải thưởng Nobel, ông nói rằng ông muốn nó là dành cho mình.

Philip Roth là một tiểu thuyết gia người Mỹ gốc Do Thái. Năm 1998, Roth nhận huân chương Quốc gia về Nghệ thuật tại Nhà Trắng và năm 2001 ông đã nhận được giải thưởng cao nhất của Viện Hàn lâm Văn học Nghệ thuật Hoa Kỳ, huy chương vàng về tiểu thuyết. Năm 2011, Roth đoạt giải Tư giải Man Booker quốc tế trị giá 60.000 bảng. Vì thế, ở Mỹ và nhiều nước khác, người ta không tiếc lời ca ngợi Roth như là tiểu thuyết gia người Mỹ còn sống vĩ đại nhất.

Với hơn 40 cuốn tiểu thuyết cùng kịch bản văn học, truyện ngắn, thơ và tác phẩm phi hư cấu, Joyce Carol Oates được xem như là một đối thủ đáng gờm cho giải Nobel văn chương trong nhiều năm. Thậm chí có không ít người vì quá hâm

mộ còn cho rằng bà quá nổi tiếng để được xem xét trao giải Nobel. Còn Viện Hàn lâm khoa học Thụy Điển lại khẳng định, sự nổi tiếng không ngăn cản Carol đạt tới đỉnh vinh quang, bằng chứng là nhà văn Mario Vargas Llosa - người từng là tác giả bestseller trong nhiều năm vẫn có thể đoạt giải Nobel văn chương vào năm 2010 đấy thôi.

Nhà thơ Syria có tên thật là Ali Ahmad Said Esber (Adonis) đã từng phải sống lưu vong ở Paris từ những năm 1960 của thế kỷ trước vì nhiều lí do khác nhau. Tuy nhiên, từ khi cuộc chiến tranh Syria nổ ra cách đây gần chục, ông được coi là người có tầm ảnh hưởng chính trị rộng lớn ở quốc gia Hồi giáo này. Các thành viên Ban giám khảo một mực khẳng định rằng, việc chọn người đoạt giải Nobel không căn cứ vào bất kì yếu tố nào khác ngoài văn chương.

Trong bảng danh sách lúc đầu là 198 người, trong đó có 36 nhà văn từng được đề cử vào các năm trước đó. Tuy nhiên đến gần phút chót danh sách dần thu hẹp lại chỉ còn có 6 người.

Sự lên ngôi của thể loại văn học tư liệu, hồi ức của nhà văn Pháp Patrick Modiano là động lực cho nhiều sáng tác mới của ông ra đời. Gần đây, ông đã cho ra đời tác phẩm “Un Cirque Passe” (After the Circus - tạm dịch: Sau vòng quay) bằng tiếng Anh và đã ra mắt tại Mỹ vào tháng 10 và tại Vương quốc Anh một năm sau đấy (10/2016).

Vì sao Giải Nobel lại xướng tên thể loại “cận văn chương”?

Nhiều người cho rằng việc trao giải Nobel cho thể loại văn chương nào là quyền của Hội đồng giám khảo giải. Còn các thành viên trong Hội đồng quả quyết rằng việc trao giải không tính đến bất kỳ yếu tố nào khác ngoài văn chương. Liệu điều ấy đã đủ thuyết phục dư luận chưa, nhất là đối với một Giải văn chương uy tín và danh giá nhất hành tinh như Giải Nobel?

Thực ra, khoảng vài năm trở lại đây, trong giới lý luận, phê bình văn học đã xếp các cuốn sách hồi ký, nhật ký, du ký, tư liệu, phóng sự điều tra, phỏng vấn... vào thể loại cận văn chương, tức chưa phải là văn chương đích thực theo quan niệm truyền thống. Theo các lý luận, phê bình văn học, những tác phẩm trên tuy có nhiều chất liệu của đời sống thực, nhưng lại nghiêng về ghi chép những người thực, việc thực theo cách phản ánh của báo chí về gương người tốt, việc tốt, theo quan niệm của riêng từng nhà văn hay còn gọi là văn chương phi hư cấu, những nhận định, đánh giá chủ quan của người viết hoàn toàn phụ thuộc vào chính nhà văn, mà không cần bận tâm quá nhiều đến logic khách quan. Bởi thế nhiều khi những sự thật trần trụi về sự việc và con người mà anh ta ghi chép được qua phỏng vấn, điều tra hay hồi tưởng lại những gì đã từng xảy ra trong cuộc sống của mình.

Ở các tác phẩm cận văn chương, yếu tố hư cấu tham gia vào quá trình sáng tạo cấu trúc, xây dựng cốt truyện, lựa chọn hình tượng tác phẩm và nhân vật là rất ít. Các tiểu thuyết Quảng trường Ngôi Sao, Phố những cửa hiệu u tối, Ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối Những đại lộ ngoại vi của Patrick Modiano đoạt giải Nobel văn chương năm 2014 đều về hồi tưởng là như vậy. Còn War’s Unwomanly Face (Chiến tranh không có khuôn mặt phụ nữ) viết về Thế chiến thứ II, Zinky Boys (Những cậu bé Zinky) viết về cuộc chiến giữa Liên Xô và Afghanistan và Voices From Chernobyl (Những tiếng nói từ Chernobyl)... của nữ nhà văn Belarus Svetlana Alexievich, 67 tuổi cũng tương tự như vậy về khía cạnh đề tài và chủ đề.

Một vấn đề nữa khiến dư luận không khỏi hoài nghi khi Hội đồng giám khảo quả quyết không quan tâm đến những gì ngoài văn chương. Vì thực tế đã không ít lần Giải Nobel Văn chương được trao cho các tác giả là những người bất đồng với thể chế chính trị của quốc gia mình, buộc phải sống lưu vong nhiều năm, thậm chí là suốt đời như B.Pasternak. Câu chuyện của tác giả cuốn Doctor Zhivago (Bác sĩ Zhivago) bắt đầu từ năm 1932 khi ông bắt đầu sáng tác bằng phong cách của mình, không theo Chủ nghĩa vị lai, đó cũng là lúc ông không còn được chính quyền ủng hộ. Đó cũng là lý do mà cuốn Doctor Zhivago (Bác sĩ Zhivago) (viết trong khoảng 10 năm 1945-1955) không được xuất bản ở Liên Xô mà phải đến năm 1957 mới được xuất bản tại Ý. Năm 1958, cuốn sách được dịch ra 18 thứ tiếng. Trước đó, liên tục trong khoảng 10 năm, Pasternak đã được đề cử giải Nobel văn học vì sự nghiệp thi ca nhưng do những áp lực chính trị, Pasternak buộc phải từ chối nhận giải.

Nhà văn Trung Quốc Cao Hành Kiện nhận được Giải Nobel Văn chương năm 2000 với tiểu thuyết Linh Sơn (đã được dịch ra tiếng Việt). Ông khởi đầu làm nghề phiên dịch tiếng Pháp ở Hội Nhà văn, sau vì bất đồng chính kiến với giới lãnh đạo Trung Quốc, ông buộc phải sang Pháp định cư, viết kịch, vẽ tranh để sinh sống.

 *

Tác phẩm của Alexievich dù được dịch ra nhiều thứ tiếng như Mỹ, Đức, Anh, Nhật Bản, Thụy Điển, Pháp, Trung Quốc, Bulgary, Ấn Độ và nhận nhiều giải thưởng quốc tế. Nhưng các tác phẩm của bà đa phần viết bằng tiếng Nga, lại không được xuất bản ở quê hương Belarus, bị cho là vì luật kiểm duyệt nghiêm ngặt của chính quyền Tổng thống Alexander Lukashenko. Vì thế bà từng phải sống lưu vong 10 năm từ năm 2000, ở Ý, Pháp, Đức, Thuỵ Điển và một số nơi khác trước khi quay trở về trú ngụ tại Minsk.

Đấy liệu có phải là những yếu tố ngoài văn chương không? Thời gian gần đây dư luận đã lên tiếng cho rằng Giải Nobel Văn chương đang có xu hướng chính trị hóa, dễ dàng trao cho các tác giả và tác phẩm bất đồng chính kiến với thể chế chính trị của các quốc gia, nơi chính tác giả đã sinh ra và lớn lên ở đấy. Ba trường hợp gần đây nhất là Boris Leonidovich Pasternak, Patrick Modiano, Svetlana Alexievich đều là những nhà văn quan tâm khai thác, ghi chép lại những mặt trái của cuộc Chiến tranh Thế giới thứ II, cho rằng cuộc chiến này chỉ mang lại nỗi đau cho con người, thay vì chính nó đã làm được một việc vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại là giải phóng loài người khỏi thảm họa phát xít./.

 Đỗ Ngọc Yên

 

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại