Phan Phụng Văn, người "yêu tha thiết văn chương"
08-11-2015 12:31


Trong bài thơ “Tâm hồn nghệ sĩ” (trang 126), Phan Phụng Văn đã nêu rõ tâm nguyện của bà: “Chúng tôi đây những tâm hồn nghệ sĩ/ Sống và yêu bằng tất cả tim mình/ Không đem văn chương làm mối lợi kinh doanh/ Mà sáng tác với tinh thần trách nhiệm...” và bà đã khẳng định: “Vâng! Tôi là gái của miền Nam nước Việt/ yêu say sưa, yêu tha thiết văn chương/ Yêu dân Nam và yêu nhất quê hương/ Vì lý tưởng tình thương lẽ sống.”. Người “con gái của miền Nam nước Việt” ấy đến nay đã hơn 86 tuổi với bề dày văn chương đáng nễ phục là 60 năm miệt mài cùng với văn chương, xuất bản 8 tập thơ, vọng cổ và in chung trong nhiều tuyển tập thơ văn khác.

Sách “Tây Ninh xưa” của Huỳnh Minh xuất bản tại Sài Gòn trước năm 1975, trong phần Văn học nghệ thuật cũng dành cho bà những dòng ưu ái và trân trọng. Phan Phụng Văn tên thật là Phan Thị Hộ, sinh năm 1929 tại làng Thái Bình, tỉnh Tây Ninh, hội viên sáng lập Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tây Ninh. Cả cuộc đời bà dành mọi tâm huyết và tiền bạc cho “nàng thơ”, thời son trẻ, bà từng có mối tình đẹp với một người bạn văn chương, người bạn ấy đi tập kết ra Bắc năm 1954, bà ở vậy mong mõi, chờ đợi ngày tái hợp, nhưng: “Mấy mươi năm sau anh trở lại..../...Anh về đẹp lứa đẹp đôi/ Còn tôi dang dở đường đời trầm luân/ Tình chỉ đẹp khi không thành duyên nợ/ Tôi lặng thầm gác dở mối tình si...” (Chuyện tình tự kể, trang 14), và cho đến nay bà vẫn đơn chiếc một mình. Anh em văn nghệ sĩ ở trong tỉnh đặc biệt dành cho bà danh hiệu “Nữ sĩ” thật trìu mến mỗi khi bà xuất hiện.

“Bút Ngọc” là tác phẩm thứ 9 của bà, sách dày 312 trang với 3 phần: Phần thơ gồm có 136 bài thơ sáng tác từ năm 1984 đến nay. Phần 2 là viết ngắn và vọng cổ gồm 14 bài, trong đó có những bài tác giả khác viết về bà. Phần 3 là những phụ lục ảnh về các hoạt động của bà, chủ yếu là những sinh hoạt về văn học nghệ thuật trong tỉnh.

Thơ của Nữ sĩ Phan Phụng Văn phần lớn làm theo các thể loại truyền thống như Đường luật, Lục bát và một số bài theo thể thơ tự do, tất cả đều mang âm hưởng, phong cách của “phong trào thơ mới, nhiều bài thơ xướng họa, giao lưu với bạn bè văn nghệ, nhất là khi bà và các văn nghệ sĩ lão thành của tỉnh mở quán thơ trên núi Bà Đen, nhằm truyền bá văn học cách mạng và vận động thành lập Hội Văn học Nghệ thuật của tỉnh vào những năm đầu của thập niên 80 thế kỷ trước như cố nhà văn Vân An, cố nhà văn Xuân Sắc, cố nhà thơ Xuân Phát v.v...Có lẽ vì thế mà tâm hồn người làm thơ luôn trong sáng, khi “Nghĩ về thơ” (trang 68): “Quý thơ hơn quý tiền vàng/ coi thơ hơn cả giàu sang cuộc đời” và “Giữ thơ như thể giữ thân/ Một kho thơ báu, mấy vần thơ lưu...”, và chắc trong chúng ta, rất ít ai dám nghĩ: “Đói cơm một bữa... được rồi/ Đói thơ một bữa ra... người thiên thu!” (Tâm hồn nghệ sĩ, trang 126). Nhiều bài thơ của bà, câu chữ vẫn mang phong vị cũ xưa, ít trau chuốt, gọt dũa, song luôn tràn đầy cảm xúc thăng hoa, đặc biệt là luôn lạc quan yêu đời, không rên than ủy mị nhưng những người cùng thời với bà. Bà gọi xã Cẩm Giang là “Cẩm Giang thôn” với những câu thơ dung dị nhưng không kém phần lãng mạn: “Cẩm Giang thôn! Cẩm Giang thôn!/ Phiêu bồng thảo vẫn bềnh bồng trên sông...” (Phiêu bồng thảo, trang 123). Trong thơ bà đã phát hiện ra “Con mắt thuyền” mà người dân sông nước thường “điểm nhãn” cho những con thuyền ngược xuôi trên sông biển: “Mắt thuyền không khép bao giờ/ Nhìn xem khắp chốn bến bờ biển xanh/ Mắt thuyền soi bước thủy trình/ Trùng dương, hải lý bao quanh mắt thuyền.” (trang 32).

Phan Phụng Văn, người

Thơ bà còn dành rất nhiều tình cảm cho con sông Vàm Cỏ nước xanh trong, ngọn núi Bà mơ màng trong sương khói, và cũng rất nhạy bén... thời sự khi bà viết về Trường Sa, Hoàng Sa của tổ quốc: “Đất liền và biển cả/ Tuy xa là thật xa/ Nhưng gần thì rất gần/...Tổ quốc vẫn ghi công/ Người chiến sĩ anh hùng” (Tặng chiến sĩ Trường Sa, trang 214) và đây nữa: “Biển ơi! Biển Việt Nam ơi!/ Lòng ta tha thiết suốt đời mến thương/....Trăng lên mắt biển trăng vàng/ Gió lên rào rạt hàng hàng liễu dương” (Đây biển Việt Nam, trang 207).

Nhà văn nguyễn Đức Thiện, xem như người em của bà, sinh thời vẫn giáo lưu, xướng họa thơ. Lúc nhà văn mất, bà đã có những vần thơ đưa tiễn tràn đầy tình cảm: “Tin buồn đến thật bất ngờ/ Người bạn thân thiết bây giờ còn đâu/ Thi đàn vắng bóng thi nhân/ Nghìn thu vĩnh biệt dương trần bạn ơi!” (Phúng điếu bạn thơ Nguyễn Đức Thiện, trang 170).

Song có lẽ điều bà luôn đau đáu, tâm niệm là mong có một ngày “quán thơ” được mở lại trên núi Bà, để du khách ngày xuân đến núi được dịp giao lưu xướng họa, làm đẹp cho thơ, cho đời: “Quán thơ ơi, hỡi quán thơ/ Người còn, người mất bơ vơ một mình/ Quê hương thấm đượm nghĩa tình/ Tả sao cho hết lòng mình thiết tha.../...Mãi mãi lòng tôi vẫn thiết tha/ lá biếc cành xanh như vẫy gọi/ Hồn thiêng sông núi đẹp quê nhà...” (Quán thơ ngày ấy đâu rồi?, trang 50). Gần chạm đến ngưỡng cửa 90 năm của cuộc đời, gom góp được đồng nào bà dành để in thơ, tâm hồn lạc quan, yêu văn chương đã giúp bà vẫn còn trí tuệ minh mẫn, vẫn ngày ngày làm thơ, với một tâm niệm: “Là chuốc tâm tư vẫn sáng ngần/ Thi phú văn chương trao đổi mãi/ Sĩ diện ôn hòa giữ nghĩa nhân...” (Thi sĩ bình dân, trang 20). Bà tự nhận mình là “Thi sĩ bình dân”, nhưng “Bút ngọc” thì luôn: “Thành tâm quyết chí tìm tri kỷ/ Tình người, tình bạn với quê hương/ Như trăng sao sáng nghìn tinh thể/ Rọi khắp trần gian ánh thái dương” (trang 88).

Xin nghiêng mình cảm phục bà, nữ sĩ Phan Phụng Văn, cầu mong bà luôn mạnh khỏe để: “PHỤNG múa miền Nam khoe sắc nắng/ VĂN chương thi phú điểm tô đời” (Tâm hồn nghệ sĩ, trang 126), như bà hằng mong muốn...

Bên bờ Vàm Cỏ đông, tháng 11/ 2015

Nguyễn Sông Trà

----------------

(*) Đọc tập “Bút ngọc”, tác giả Phan Phụng Văn, NXB Thanh niên quý IV/2015

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại