Bài 2: Khi làng nghề chỉ để tham quan
Thứ Hai, ngày 13/09/2010 - 08:56

(Toquoc)-Nguồn tài nguyên du lịch làng nghề truyền thống đang được khai thác tích cực ở khía cạnh là điểm đến đặc trưng của Việt Nam. Tuy nhiên chức năng sản xuất hàng hoá phục vụ du lịch thì gần như bị các nhà sáng tạo chiến lược du lịch bỏ quên.

Cả nước có trên 6000 làng nghề, trong đó riêng Hà Nội đã có 1264 làng nghề với 530 làng nghề truyền thống, 244 làng nghề thủ công mỹ nghệ. Nhiều về số lượng, phong phú về loại hình sản xuất, nhưng hơn 6000 “mỏ tài nguyên du lịch” ấy không cho ra nổi một sản phẩm đồ lưu niệm đặc trưng của du lịch Việt Nam.

Bài 2: Khi làng nghề chỉ để tham quan - ảnh 1

Mặt nạ hay con rối không đủ sự cô đọng văn hóa để lưu giữ ký ức Việt trong mỗi du khách khi dời Việt Nam (Ảnh: T.Mai)

Các làng nghề ở Hà Nội như gốm Bát Tràng, gỗ Đồng Kỵ, gỗ Vân Hà, sơn mài Hạ Thái, thêu Quất Động… có thể nói đã “ăn nên làm ra” nhờ xuất khẩu các đồ mỹ nghệ, nhưng việc “xuất khẩu tại chỗ” cho khách du lịch lại không được lưu tâm tới. Thời gian gần đây, khi du lịch làng nghề được đầu tư và quảng bá, các cửa hàng bày bán đồ thủ công mỹ nghệ trong làng nghề xuất hiện nhiều hơn. Thế nhưng, trên thực tế, hàng nằm trên giá bán cho du khách cũng chính là hàng bán ra thị trường tiêu dùng. Trong khi đó, nhu cầu của hai thị trường này lại hoàn toàn khác nhau.

Khách Tây Âu rất thích đồ sơn mài. Khách Nhật rất thích tranh thêu. Khách Mỹ rất thích đồ mỹ nghệ bằng gỗ, tre, rơm… Họ sẵn sàng bỏ nhiều tiền ra mua những tác phẩm nghệ thuật chất lượng. Đó là lý do vì sao đồ thủ công mỹ nghệ Việt Nam xuất khẩu rất tốt sang những thị trường này. Nhưng khi họ sang Việt Nam với mục đích du lịch, thường là dài ngày, họ không thể mang đi vác lại những món đồ cồng kềnh, dễ vỡ trong suốt cuộc hành trình cho đến khi về nước và càng không thể mang với số lượng lớn về làm quà tặng bạn bè.

Ông Ngưyễn Hoàng Lưu – Phó Chủ tịch Hiệp hội Thủ công mỹ nghệ và làng nghề Hà Nội bày tỏ: “Đúng là không có sự rạch ròi trong việc sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ tại các làng nghề. Mặt hàng phục vụ tiêu dùng phải khác, mặt hàng phục vụ du lịch phải khác. Mỗi mặt hàng mang một chức năng khác nhau nên không thể giống nhau được. Trong khi đó, các làng nghề lại quá chú trọng vào thị trường tiêu dùng đồ mỹ nghệ cao cấp mà không quan tâm tới thị trường đồ lưu niệm bình dân khi mà thị trường này đang rất sôi động và mang lại nguồn thu lớn”.

Đó cũng một trong những lý do khiến du lịch làng nghề Việt Nam hiện nay chưa phát triển được. Hạ tầng văn hoá truyền thống bị phá vỡ bởi quá trình đô thị hoá, môi trường ô nhiễm do sản xuất phát triển, khách du lịch không có nhiều điểm để tham quan đã đành, mong muốn mua được những món đồ lưu niệm do các nghệ nhân Việt Nam chế tác cũng không thực hiện được.

“Họ không thể tìm được những sản phẩm ưng ý chứ chưa nói đến sản phẩm mang tính “ký ức”, mang dấu ấn Việt Nam. Ngay cả các làng nghề được coi là biết làm du lịch, mẫu mã, chủng loại sản phẩm cũng quá đơn điệu và không hợp với nhu cầu của thị trường. Người thợ mới chỉ để ý đến kỹ thuật, sản xuất theo ý thích bản thân hoặc rập khuôn theo truyền thống mà chưa có sự sáng tạo và tìm hiểu thị hiếu của khách du lịch.

Khách Hàn Quốc, Đài Loan ưa những sản phẩm tinh tế, hoa văn cầu kỳ, chi tiết. Khách châu Âu lại thích những sản phẩm đơn giản, hoạ tiết gọn ghẽ, thẳng thắn, sang trọng và đặc biệt quan tâm đến độ an toàn của sản phẩm, như chất liệu có độc hại không, hàng mây tre có ngâm tẩm hoá chất có hại không, sản phẩm có dễ bị mốc, bong tróc trong điều kiện thời tiết lạnh không… Trong khi đó, các làng nghề Việt Nam lại giỏi kỹ thuật hàng chợ hơn là kỹ thuật tinh xảo. Gốm Bát Tràng nổi tiếng là thế nhưng vào chợ Bát Tràng thì hỗn tạp, hàng tinh ít, “hàng chợ” thì nhiều. Khách nước ngoài vào chợ chỉ để tham quan chứ không mua được gì” – ông Lưu khẳng định.

Tuy nhiên, ông Lưu cũng cho rằng: khó có thể trách được các làng nghề bởi vì họ vốn sống bó hẹp trong môi trường nông thôn địa phương, ít nhạy cảm với thị trường và không có nhiều cơ hội giao thương với nước ngoài mà chỉ xuất hàng thông qua những doanh nghiệp. Cái gì bán được ra thị trường thì họ chỉ tập trung vào làm cái đó chứ không có khái niệm về sáng tạo mẫu mã. Trong khi đó, đa số các doanh nghiệp không có điều kiện làm “design”. Đội ngũ thợ chỉ giỏi tay nghề kỹ thuật mà thẩm mỹ yếu và bị bó khuôn.

Bà Nguyễn Thị Lan Hương - Giảng viên khoa du lịch, Viện Đại học Mở - cũng cho rằng: “Sở dĩ các làng nghề không biết chiếm lĩnh thị trường đồ lưu niệm phục vụ du lịch là vì chẳng ai nói với họ điều ấy. Thiếu sự định hướng từ cơ quan quản lý, các làng nghề thường chia làm hai cách ứng xử: hoặc là cứ sản xuất bình thường và mặc cho khách thích tham quan gì thì tham quan như làng nón Chuông, gỗ Đồng Kỵ; hoặc là tự ý thức được việc phải làm du lịch, phải bán được hàng cho khách du lịch nhưng sản xuất một cách tự phát mà không có kiến thức đầy đủ về thị trường du lịch như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, mây tre đan Chương Mỹ…”

Cũng theo bà Lan Hương, do nhận thức về du lịch của các làng nghề rất hạn chế cho nên họ chỉ sản xuất dựa vào quan sát, học hỏi, kinh nghiệm bản thân mà không để ý đến tính bản sắc văn hoá vùng miền và thương hiệu của sản phẩm. Từ đó dẫn đến việc hơn 6000 làng nghề trên cả nước nhưng không có mẫu hàng lưu niệm nào đặc trưng nổi bật cho du lịch Việt Nam.

“Ví dụ như, Việt Nam rất nổi trội về du lịch biển. Mỗi vùng biển lại có một đặc trưng và bản sắc văn hoá khác nhau. Thế nhưng, đi dọc các điểm du lịch biển từ Bắc tới Nam thấy đồ lưu niệm nơi nào cũng giống nơi nào, cứ na ná tương tự nhau. Cũng vỏ sò, vỏ ốc, ngọc trai, san hô đấy, nhưng nếu người thợ thủ công biết thể hiện cái đặc trưng vùng miền vào sản phẩm  thì lại khác. Vịnh Hạ Long có thuyền buồm, có quần thể các núi đá vôi nhiều hình thù. Biển Nam Trung Bộ lại nổi bật bởi các loại ghe không đâu có. Nếu các chi tiết đặc sắc này được sáng tạo thành những mẫu đồ lưu niệm thay cho những chuỗi vòng ốc, sò đơn điệu thì chắc chắn sẽ khiến khách du lịch thích thú bỏ hầu bao ra mua”.

Bà Lan Hương khẳng định thêm: “Nói thị trường đồ lưu niệm Việt Nam không có bất kỳ sản phẩm nào mang tính biểu tượng cho văn hoá Việt Nam thì không đúng. Cũng có thể liệt kê ra vài món như mặt nạ, như con rối, như cô gái đội nón lá mặc áo dài… nhưng tất cả những sản phẩm đó chưa đạt đến độ cô đọng văn hoá và gây ấn tượng thị giác với khách du lịch. Hơn nữa, lại được sản xuất quá lẻ tẻ, vụn vặt,  không đủ mạnh để tạo ra tính biểu tượng phổ biến. Làng Bát Tràng làm du lịch đã nhiều năm nay. Gốm Bát Tràng nổi tiếng khắp cả nước. Nhưng sản phẩm nào có dấu ấn riêng của Bát Tràng, chỉ có ở Bát Tràng mà không đâu khác, khách nhìn vào là nhận ra ngay gốm Bát Tràng thì vẫn chưa có câu trả lời”.

Câu trả lời hẳn nhiên không thể chỉ từ làng nghề Bát Tràng, mà cần tiếng đáp lại của các nhà quản lý về du lịch.

Tùng Mai

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại