Chính phủ báo cáo việc sử dụng vốn vay
23-05-2015 10:05

(Toquoc)-Chính phủ vừa gửi báo cáo về sử dụng vốn vay, quản lý nợ công đến các vị đại biểu Quốc hội.

Tập trung cho đầu tư phát triển

Năm 2014, Việt Nam tiếp tục đàm phán, đẩy mạnh huy động nguồn vốn ODA từ các nhà tài trợ, đã ký kết 41 hiệp định vay ODA, vay ưu đãi từ các nhà tài trợ với tổng trị giá 4.705,2 triệu USD, Chính phủ cho biết.

Theo báo cáo do Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng thừa ủy quyền ký thì việc phân bổ sử dụng vốn vay nước ngoài của Chính phủ đã được tập trung chủ yếu cho đầu tư phát triển, gồm: Bộ Công Thương (năng lượng điện) khoảng 1.846 triệu USD, chiếm 31,6%. Giao thông vận tải là 1.173 triệu USD, chiếm 24,9%. Nông nghiệp và phát triển nông thôn là 327 triệu USD, chiếm 7%. Tài nguyên và môi trường (cho biến đổi khí hậu) khoảng 217 triệu USD, chiếm 4,6%. Y tế  là 170 triệu USD, chiếm 3,6%; và còn lại được phân bổ cho các bộ, ngành và địa phương khác trong cả nước.

Cả bảo lãnh vay trong nước và nước ngoài, các dự án trong lĩnh vực điện đều đứng số một.

Ngoài ra, năm 2014 Chính phủ đã phát hành trái phiếu quốc tế với tổng giá trị 1 tỷ USD, lãi suất coupon 4,8% để tái cơ cấu lại các khoản nợ gốc trái phiếu quốc tế phát hành năm 2005 và 2010.

Theo đánh giá, việc này giúp giảm đáng kể chi phí vay thương mại của Chính phủ, góp phần cơ cấu lại danh mục nợ Chính phủ theo hướng giảm áp lực chi trả nợ, kéo dài thời hạn vay, giảm đỉnh nợ theo đúng tinh thần chỉ đạo của Quốc hội.

Chính phủ báo cáo việc sử dụng vốn vay - ảnh 1
Chính phủ cho biết, vốn vay được tập trung cho đầu tư phát triển

Cũng theo báo cáo này, lãi suất trái phiếu được điều hành chặt chẽ, sát với tình hình thị trường và phù hợp với định hướng điều hành chính sách tiền tệ. Cụ thể, lãi suất trung bình của trái phiếu Chính phủ phát hành năm 2014 là: 6,62%/năm, giảm khoảng 1,3%/năm so với năm 2013, góp phần tiết kiệm chi phí vay nợ cho ngân sách nhà nước.

Ngoài nợ Chính phủ, báo cáo cũng cho hay tổng số vay của chính quyền địa phương là 16.290 tỷ đồng. Nguồn vốn này được huy động chủ yếu qua qua tạm ứng tồn ngân Kho bạc Nhà nước, vay ngân hàng phát triển Việt Nam, phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, Chính phủ cho biết.

Tổ chức, quản lý nợ còn phân tán

Tuy nhiên, báo cáo của Chính phủ cũng thừa nhận việc huy động, phân bổ sử dụng vốn vay công còn nhiều tồn tại, hạn chế. Trong đó đáng chú ý là công tác tổ chức và quản lý nợ công còn có sự phân tán, thiếu sự gắn kết chặt chẽ giữa khâu huy động vốn (đề xuất danh mục, lựa chọn dự án ưu tiên sử dụng vốn vay, xác định cơ chế sử dụng vốn vay, công tác vận động, đàm phán, ký kết điều ước quốc tế) với khâu tổ chức thực hiện và trả nợ vay, làm bị động trong việc cân đối nguồn vay trả nợ, thanh toán, đối chiếu, quyết toán, kiểm toán số liệu về nợ công.

Cùng đó, sức ép vốn cho phát triển cơ sở hạ tầng, kinh tế xã hội ngày càng lớn cùng với nhận thức về nợ công còn hạn chế, coi các nguồn vốn vay khu vực công là có sự hỗ trợ của nhà nước, trách nhiệm trả nợ thuộc về ngân sách nhà nước nên các Bộ, ngành và địa phương thường đề xuất gia tăng quy mô, mở rộng diện huy động vốn vay, chưa được gắn kết chặt chẽ với các hạn mức nợ công, làm cho dư nợ công tăng khá nhanh (năm 2013/2012 tăng 17,9%; năm 2014/2013 tăng 20,2% và dự kiến năm 2015/2014 tăng khoảng 19,5%).

Cơ cấu nợ chưa thực sự bền vững. Đơn cử như việc sử dụng các khoản vay ngắn hạn cho đầu tư dài hạn làm phát sinh rủi ro tái cấp vốn và tạo ra áp lực trả nợ lớn trong ngắn hạn; chi phí huy động vốn vẫn còn cao.

Việc phân bổ sử dụng vốn vay còn dàn trải, nhiều dự án chậm tiến độ, có dự án hoàn thành nhưng không đạt mục tiêu đề ra. Tình trạng điều chỉnh tăng tổng mức đầu tư so với phê duyệt ban đầu, điều chỉnh các Hợp đồng diễn ra khá phổ biến, làm tăng chi phí và nợ công...

Chính phủ cho rằng cần phải có sự gắn kết chặt chẽ trong khâu huy động, phân bổ sử dụng vốn vay (trách nhiệm của Bộ Kế hoạch và Đầu tư) với khâu rút vốn vay, thanh toán, thu hồi nợ và bố trí trả nợ (trách nhiệm quản lý của Bộ Tài chính) để đảm bảo mức vay trong giới hạn đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, tiến tới thống nhất trong quản lý nợ công theo quy định của Luật Quản lý nợ công./.

M.Đức

 

 

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại