Dùng cây gì, con gì để “đấu” trong TPP, AEC?
17-11-2015 05:30

(Toquoc)-Những tác động tiêu cực trong hội nhập kinh tế quốc tế được các đại biểu Nguyễn Thị Khá (Trà Vinh), Nguyễn Ngọc Hòa - TP Hồ Chí Minh, Nguyễn Thị Kim Bé (Kiên Giang)… chất vấn Bộ trưởng NN&PTNT, Công Thương, Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải.

Dùng cây gì, con gì để “đấu” trong TPP, AEC?

Theo đại biểu Nguyễn Ngọc Hòa - TP Hồ Chí Minh, Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) chưa ra đời và TPP chưa có hiệu lực, mà ngành nông nghiệp Việt Nam đã phải đối mặt trước việc gạo không cạnh tranh nổi gạo chất lượng cao của Thái Lan và Camphuchia, trái cây của Thái Lan được bày bán nhan nhản, thịt gà Mỹ, thịt bò Úc được nhập khẩu ngày càng nhiều và được nhiều người tiêu dùng Việt Nam lựa chọn. Tất cả đang gây áp lực lớn lên nền nông nghiệp Việt Nam. Trước thực trạng này, ĐB Hòa yêu cầu Bộ trưởng NN&PTNT đưa ra giải pháp gì để nông sản Việt không bị thua trên sân nhà.

Theo Bộ trưởng Cao Đức Phát, nông nghiệp nước ta đã ở giai đoạn sản xuất đáp ứng vượt xa nhu cầu tiêu dùng ở trong nước. Chính vì thị trường là yếu tố sống còn đối với nông nghiệp. Việc ký hàng loạt các hiệp định tự do hóa thương mại đều phải đảm bảo tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển, để nông nghiệp có điều kiện để tiếp cận thị trường nhiều hơn thị trường của các đối tác.

Tuy nhiên, ông Phát cũng thừa nhận, để phát huy được những cơ hội đó thì phải có sản phẩm, có khả năng cạnh tranh mạnh thì mới phát huy được cơ hội. Hiện  vẫn còn nhiều sản phẩm khả năng cạnh tranh yếu như mía đường, chăn nuôi.

Minh chứng cho điều này ông Phát dẫn ra những con số đáng suy nghĩ: 70% sản phẩm chăn nuôi của nước ta là do các hộ gia đình nông dân rất nhỏ sản xuất, trong khi cả nước Mỹ chỉ có 40 công ty và 29.500 hộ chăn nuôi, nuôi một năm 9 tỷ con gà. Nước ta 8 triệu hộ nông dân nuôi một năm 320 triệu con gà, năng suất, chất lượng thì thấp mà giá thành thì cao.

Dùng cây gì, con gì để “đấu” trong TPP, AEC? - ảnh 1
70% sản phẩm chăn nuôi của nước ta là do các hộ gia đình nông dân rất nhỏ sản xuất

Khẳng định không thể để cuộc sống của hàng triệu hộ nông dân rơi vào ngõ cụt, ông Phát cho biết phải tổ chức lại sản xuất và hỗ trợ nông dân nhanh chóng ứng dụng khoa học kỹ thuật để sản xuất ra các loại nông sản, kể cả những nông sản đang yếu thì càng phải tập trung nhiều hơn để hỗ trợ. Mặt khác, tạo điều kiện để cho các hộ sản xuất lớn, các công ty sản xuất theo kiểu công nghiệp đạt trình độ của các đối tác.

Chưa hài lòng với câu trả lời, ĐB Hòa tiếp tục yêu cầu người đứng đầu ngành nông nghiệp trả lời cho được “trong số các sản phẩm nông nghiệp cây trồng, vật nuôi, ta dùng cây gì, dùng con gì để hội nhập và thâm nhập vào thị trường bên ngoài”.

Cơ hội nâng giá trị sản phẩm dệt may

Trước việc gia nhập AEC và TPP sẽ mở ra cơ hội lớn cho nền kinh tế Việt Nam, song cũng tạo ra thách thức cho các sản phẩm dệt may xuất khẩu vào thị trường nhiều nước trong khối, Bộ trưởng Bộ Công Thương - Vũ Huy Hoàng cho biết, nguyên tắc khi tham gia đàm phán các Hiệp định thương mại tự do, Việt Nam yêu cầu các đối tác dành cho Việt Nam một số ưu đãi cốt lõi, đặc biệt là đối với một số mặt hàng chủ lực như dệt may.

Theo Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng, về cơ bản, các nước chấp nhận mở cửa thị trường xuất khẩu cho hàng hóa Việt Nam có lợi thế, trong đó có dệt may. Riêng đối với TPP, chủ yếu là Hoa Kỳ yêu cầu đối với một số sản phẩm dệt may khi Hiệp định có hiệu lực phải áp dụng nguyên tắc “từ sợi trở đi”.

“Một số mặt hàng khác có thể chấp nhận một thời gian duy trì tình hình như hiện nay, nghĩa là mặt hàng chúng ta chưa sản xuất được thì nhập khẩu từ các nước có thể ngoài TPP được hưởng ưu đãi. Kết quả đàm phán, chúng ta đấu tranh được 184/186 chủng loại hàng hóa dệt may mà không phải áp dụng nguyên tắc xuất xứ “từ sợi trở đi” (chiếm 15% kim ngạch xuất khẩu), Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng làm rõ. 

Để chuẩn bị cho TPP, trong suốt 5 năm đàm phán, ngành dệt may đã vận động, đã tự đầu tư. Chỉ tính riêng trong thời gian từ năm 2013 đến cuối năm 2014 đã thu hút đầu tư trong ngành dệt may được khoảng 3 tỷ USD, trong đó có cả đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Với hướng như vậy thì ngành dệt may dự kiến đến năm 2018, khi Hiệp định TPP có hiệu lực, tỷ trọng hàng của dệt may xuất khẩu vào các nước TPP mà chúng ta có xuất xứ vải từ Việt Nam sẽ chiếm khoảng 60%.

Về tỷ lệ nội địa hóa liên quan đến ngành dệt may, Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng cho biết, hiện nay vải dệt kim tự lo được khoảng 85%. Đối với vải dệt thoi, tức là vải bình thường mới sản xuất được 1,4 tỷ mét, trong khi nhu cầu 1 năm là 4 tỷ mét (khoảng 30%). Đối với sợi cơ bản sản xuất đủ cho nhu cầu, thậm chí năm 2014 còn xuất khẩu đạt 2 tỷ USD. Tính bình quân chung, tỷ lệ nội địa hóa của ngành dệt may đạt khoảng 50%. So với cách đây 10 năm đã tăng từ 20% lên 50%.

“Để tận dụng cơ hội, trong chiến lược phát triển ngành công nghiệp dệt may sẽ tăng đầu tư vào khâu vải, kể cả đầu tư trong nước lẫn đầu tư nước ngoài. Bước đi này cũng phù hợp với tình hình thực tế, giúp Việt Nam tận dụng cơ hội từ TPP và giảm thách thức”, Bộ trưởng khẳng định.

Dùng cây gì, con gì để “đấu” trong TPP, AEC? - ảnh 2
ĐB chất vấn các thành viên Chính phủ (ảnh: Đức Anh)

Việt Nam đáp ứng được tiêu chí trong hội nhập

Cũng liên quan tới những câu hỏi về tình hình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã đăng đàn trả lời.

Theo Phó thủ tướng, trong quá trình chuẩn bị cho hội nhập ASEAN và hội nhập kinh tế quốc tế, mỗi văn bản, văn kiện hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đều được chuẩn bị kỹ lưỡng trong nhiều năm.

Mỗi lần như vậy các cơ quan Đảng, Chính phủ, Quốc hội và người dân đều có những thông tin về quá trình này, đồng thời đưa ra Nghị quyết các phiên họp, đưa ra chương trình hành động thực hiện công tác hội nhập từ ASEAN đến WTO, TPP… Trong đó có đề ra các công việc Chính phủ phải làm, các công việc giao cho các Bộ, ngành cùng xây dựng chương trình hành động.

Theo Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, khi tham gia đàm phán các Hiệp định, Bộ Công Thương, Bộ Tài chính và cơ quan đều có trao đổi doanh nghiệp và ngành hàng, hiệp hội để đánh giá mặt được, không được và mặt không thuận trong đàm phán. Quan trọng nhất là chỉ đạo, tạo ra lộ trình thích hợp cho các ngành hàng có thách thức lớn để các doanh nghiệp và người dân có thời gian chuẩn bị.

“Khi hội nhập, vấn đề đầu tiên là phải sửa đổi văn bản pháp luật để hài hòa. Trong thời gian qua, chúng ta đã mất nhiều thời gian để điều chỉnh chính sách liên quan, luật thuế và biểu thuế để hội nhập. Tham gia ASEAN và WTO, Việt Nam được đánh giá là nước đáp ứng được tiêu chí trong hội nhập”, Phó thủ tướng chỉ rõ.

Đối với các doanh nghiệp, các Bộ, ngành đã thực hiện nhiều hội thảo trao đổi để đưa ra nhận định và giải pháp ứng phó thực hiện. Chính phủ cũng đã phê duyệt chương trình xúc tiến thương mại và hội thảo đầu tư để doanh nghiệp làm quen dần trong hội nhập. Trong khi đó, bản thân doanh nghiệp cũng tự xây dựng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch của mình để ứng phó, xây dựng hoạt động.

Phó Thủ tướng cũng khẳng định, lo ngại về hàng hóa khó cạnh tranh, lao động ế ẩm là lo ngại có cơ sở, là thách thức có thể xảy ra. Nhưng từ năm 1995 đến nay xuất khẩu vẫn tăng lên cho thấy khả năng ứng phó có thể chấp nhận được. Trước sức ép về cạnh tranh và hội nhập, Chính phủ và các bộ, ngành phải có giải pháp, chấp nhận có sản phẩm ngành hàng có cạnh tranh, có sản phẩm yếu hơn nên phải có giải pháp hỗ trợ ngành hàng đó./

Thặng dư bán vốn của SCIC đạt 5.360 tỷ đồng

Cũng tại phiên chất vấn, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng đã trả lời câu hỏi của đại biểu về việc thoái vốn ở Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC).

Theo đó, trong thời gian vừa qua, SCIC đã tiếp nhận vốn nhà nước tại 980 doanh nghiệp với giá trị sổ sách là 8.518 tỷ đồng. SCIC đã bán vốn tại 811 doanh nghiệp, trong đó bán hết vốn nhà nước tại 733 doanh nghiệp, bán bớt phần vốn nhà nước tại 78 doanh nghiệp; bán quyền mua lại 19 doanh nghiệp với tổng doanh thu bán vốn đạt 9.243 tỷ đồng/giá vốn 3.925 tỷ đồng, thặng dư bán vốn đạt 5.360 tỷ đồng, tăng gấp 2,4 lần.

Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cũng cho biết, theo quy định, SCIC quy định hạch toán thặng dư bán vốn 5.360 tỷ đồng vào kết quả kinh doanh, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp và trích lập các quỹ. Trong giai đoạn từ 2013 trở về trước, phần lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ được tiếp tục bổ sung quỹ đầu tư phát triển của SCIC. Từ năm 2013 đến nay, phần lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ, SCIC nộp vào NSNN theo đúng quy định của Nghị quyết Quốc hội.

Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng, việc tiếp nhận vốn và thoái vốn tương đối tốt, việc đầu tư của SCIC hiện nay chưa nhiều. Hiện SCIC mới mua Trái phiếu Chính phủ 5.000 tỷ đồng; tham gia đầu tư vào dự án Nhà máy thuốc chữa ung thư (77 tỷ đồng, tương đương 49%); đầu tư vào dự án Nhà máy nước Sông Đà 2 và đang nghiên cứu tham gia mua cổ phần của Ngân hàng Quân đội (MB)./.

M.Đức

 

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại