Quá trình “sâu hóa bướm” quá chậm
24-07-2015 06:47

(Toquoc)-Ông Vũ Tiến Lộc ví quá trình chuyển sang KTTT như hình ảnh “sâu hóa bướm”-“tuyệt vời nhưng cũng rất quằn quại và gian nan”.

Báo cáo “Thay đổi cảm nhận về Nhà nước và Thị trường của người Việt Nam năm 2014 (CAMS 2014) công bố sáng 23/7 cho biết, chỉ có 19% trong số người được khảo sát hài lòng với tình hình hiện tại của nền kinh tế. Trong đó, nhóm Các cơ quan Quốc hội có mức độ hài lòng với nền kinh tế hiện nay cao nhất (27%), tiếp đến là Nhóm UBND và sở, ngành cấp tỉnh, thành phố (26%) và Nhóm Doanh nghiệp dân doanh trong nước (23%).

Ba nhóm có tỷ lệ hài lòng với nền kinh tế hiện nay thấp nhất là từ các cơ quan báo chí (4%), Tổ chức nghiên cứu, giảng dạy (4%) và đại sứ quán nước ngoài và các tổ chức quốc tế tại Việt Nam (6%).

Cũng theo khảo sát, có 41% đánh giá nền kinh tế Việt Nam hiện nay tốt hơn so với 5 năm trước, thấp hơn 5% so với khảo sát thực hiện năm 2011. Trong đó, mức giảm lớn là ở các nhóm: doanh nghiệp FDI (-22%), đại sứ quán nước ngoài và các tổ chức quốc tế tại Việt Nam (-15%), doanh nghiệp dân doanh trong nước (-13%), UBND và các sở, ngành cấp tỉnh (-10%)...

Quá trình “sâu hóa bướm” quá chậm - ảnh 1
Ông Vũ Tiến Lộc ví quá trình chuyển sang KTTT như hình ảnh “sâu hóa bướm”-“tuyệt vời nhưng cũng rất quằn quại và gian nan”

Quá trình “sâu hóa bướm” quá chậm

Dù vậy, với  hơn 1.600 người phản hồi khảo sát, kết quả điều tra CAMS 2014 một lần nữa khẳng định sự  ủng hộ mạnh mẽ của các nhóm khảo sát đối với mô hình kinh tế thị trường (KTTT) (89%), sở hữu cá nhân trong nền kinh tế (71%) và yêu cầu minh bạch trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách tại Việt Nam (94%). Các chỉ số này đều tăng nhẹ so với kết quả khảo sát CAMS 2011.

Tuy nhiên, nhận định về quá trình chuyển đổi sang KTTT trong thời gian qua, ông Vũ Tiến Lộc - Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đánh giá, kết quả này cho thấy những cải cách mà Việt Nam hiện đang thực hiện phù hợp với nhu cầu đông đảo người dân và doanh nghiệp. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng đưa ra phát hiện đáng chú ý như: Kỳ vọng rất lớn về vai trò của Nhà nước trong kiểm soát giá cả, tình trạng lưỡng thể của nền kinh tế khi có sự can thiệp của Nhà nước làm méo mó thị trường…

Ông Vũ Tiến Lộc ví quá trình chuyển sang KTTT như hình ảnh “sâu hóa bướm” – là quá trình “tuyệt vời nhưng cũng rất quằn quại và gian nan”.

“Con bướm KTTT vẫn chưa rời kén. Quá trình thoát ra khỏi kén mấy năm gần đây đang chậm lại, thành trạng thái lưỡng thể  do quản lý yếu kém, có sự can thiệp sâu của Nhà nước. Quá trình KTTT đang có độ trễ giữa thực tế và thể chế mà chỉ doanh nghiệp mới cảm nhận được. Ví như Luật Doanh nghiệp có rồi nhưng vẫn chưa có văn bản hướng dẫn, quá trình thực hiện chậm trễ,  chưa đạt yêu cầu!”, đại diện VCCI ví dụ.

Cùng quan điểm trên, ông Trần Đình Thiên – Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng, lý do cản trở quá trình chuyển đổi KTTT của nước ta gồm nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do cách nhìn nhận KTTT chưa đầy đủ và vấn đề lợi ích nhóm.

“Chúng ta cần phải xem lại tư duy đường lối chuyển sang KTTT. Cần phải nhìn nhận một cách đầy đủ hơn. Xét về cơ chế, phải làm sao để Nhà nước thúc đẩy KTTT mạnh mẽ hơn chứ không phải là cản trở. Ngoài ra, quá trình này chậm lại còn là do liên quan đến các động cơ lợi ích nhóm”, ông Trần Đình Thiên nhận định.

Cũng lý giải về “nút thắt” dẫn tới sự chuyển đổi KTTT chậm trễ, ông Nguyễn Mạnh Hùng - Phó vụ trưởng vụ Kinh tế Tổng hợp cho rằng, môi trường kinh doanh chưa lành mạnh. Giá cả một số dịch vụ chưa theo cơ chế thị trường mà vẫn còn bao cấp, bù chéo. Hơn nữa, vai trò của DNNN còn nhiều vấn đề cần bàn, trong khi doanh nghiệp tư nhân lại là phần lớn là nhỏ và siêu nhỏ,  nguồn chuyển giao công nghệ quản trị từ doanh nghiệp FDI chưa như mong muốn, chuyển giá trốn thuế còn phức tạp…

Đại diện cho doanh nghiệp, bà Đặng Phương Dung – Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký của Hiệp hội Dệt may Việt Nam bày tỏ, ngành dệt may chính là hệ quả của những bất cập trong chính sách, thể chế khi không được hưởng những ưu đãi như nhiều ngành nghề khác. Đây cũng là ngành chịu nhiều hậu quả của các thay đổi về thể chế, chính sách của Nhà nước.

“Mỗi lần thay đổi chính sách doanh nghiệp dệt may rất hồi hộp. Bản thân các doanh nghiệp luôn phải nghe theo những thay đổi về luật pháp, lại đa số là doanh nghiệp vừa và nhỏ  nên rất khó thích ứng. Thực tế, các đơn vị làm luật cũng tổ chức các hội nghị để các doanh nghiệp tham gia đóng góp nhưng cơ bản là khi chúng tôi đóng góp thì các nhà làm luật có lắng nghe hay không mới là điều quan trọng?”, bà Đặng Phương Dung thẳng thắn.

Do vậy, đại diện ngành dệt may cho rằng, ngành này cần nhiều yếu tố để thoát khỏi tình trạng gia công hiện nay, trong đó có sự hỗ trợ của Nhà nước về vấn đề sở hữu trí tuệ, chống buôn lậu… để nâng cao năng lực cạnh tranh, mà đối thủ sát sườn là Trung Quốc.

Trung tâm cải cách phải là Chính phủ

Việc vận hành KTTT ở Việt Nam có thể chưa thực sự tạo niềm tin và đem lại hiệu quả tích cực cho xã hội, như tạo sự cạnh tranh, thúc đẩy giảm giá, cải thiện chất lượng sản phẩm, dịch vụ… Đây là nguyên nhân khiến người dân có tâm lý mong chờ bàn tay can thiệp của Nhà nước.

Cũng chính vì thế, mâu thuẫn xảy ra là đa số những người ủng hộ nền KTTT vẫn muốn có bàn tay can thiệp của Nhà nước để bình ổn giá những hàng hóa thiết yếu. Tỷ lệ này trong CAMS 2014 là 75%, tăng 7% so với CAMS 2011.

Ông Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Tài chính cho rằng, phần lớn người dân muốn tin tưởng vào KTTT nhưng không tin tưởng vào doanh nghiệp hiện tại, chẳng hạn như:  thức ăn có đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm không? Hay về cách tính giá các mặt hàng độc quyền như xăng, điện... có vấn đề?

“Tôi nghĩ nếu Nhà nước can thiệp bằng cách thiết lập tính cạnh tranh cho mặt hàng xăng dầu, điện, và làm rõ tính minh bạch về chi phí thì mới là cách lâu dài. Chính sự can thiệp của Nhà nước thời gian qua đã làm cho người dân ít tin tưởng vào KTTT dù họ biết cơ chế thị trường là ưu việt. Vì thê, cần phải thiết lập được thể chế thị trường để vận hành thị trường đó, chứ như vừa qua, chủ sở hữu và giám sát là cùng một cơ quan thì bản thân điều này đã chứa đựng xung đột lợi ích. Điều này là phản thị trường và không bảo vệ được lợi ích cộng đồng. Hay như chương trình bình ổn giá của Nhà nước cũng là phản thị trường…”, ông Nguyễn Đức Độ ví dụ.

Sự can thiệp của Nhà nước vào thị trường cũng được ông Nguyễn Đình Cung – Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý Trung ương (CIEM) đề cập đến trong công cuộc hội nhập.

Khi đó, các doanh nghiệp có đón nhận được cơ hội từ các hiệp định thương mại hay không còn phụ thuộc vào sự nỗ lực từ chính các doanh nghiệp, chứ không phải chờ sự bao cấp từ Nhà nước.

Và tất nhiên, các doanh nghiệp có nỗ lực được hay không phần lớn cũng lại phụ thuộc vào thể chế. Nếu thể chế ràng buộc quá chặt chẽ thì doanh nghiệp sẽ không thể “bơi” ra được.

“Nếu nền kinh tế của chúng ta hội nhập mà thể chế lại không tương thích thì nguy cơ doanh nghiệp đứng ra rìa những lợi ích từ các hiệp định thương mại luôn có khả năng xảy ra. Vì thế, để mang lại lợi ích cho doanh nghiệp thì không còn cách nào khác là Nhà nước phải nâng cao thể chế”, ông Nguyễn Đình Cung nhấn mạnh.

Trong điều kiện đó, ông Vũ Tiến Lộc khẳng định, giải pháp căn bản không phải là gia tăng can thiệp của Nhà nước mà chính là đẩy mạnh tiến trình cải cách, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, tránh khỏi tình trạng mắc kẹt giữa hai hệ thống vận hành kinh tế.

“Chúng ta hiện đang bước vào một giai đoạn mới mà trung tâm cần phải cải cách chính là Chính phủ. Bộ máy Chính phủ phải là cơ quan xử lý “mạng nhện thể chế”. Hơn nữa,quá trình cải cách phải được tiến hành đồng bộ: Nhà nước, thị trường và xã hội dân sự ” ./.

Quỳnh Anh

 

 

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại