Doanh nghiệp lo vốn
Thứ Sáu, ngày 02/04/2010 - 16:03

(Toquoc)-Năm 2010, đằng sau ám ảnh của lạm phát, mối lo trước nhất, mạnh mẽ nhất chính là thâm hụt thương mại, chênh lệch cán cân thanh toán mà để giải bài toán này, cộng đồng doanh nghiệp lại một lần nữa đóng vai trò cực kỳ quan trọng.

Thế nhưng cung vốn dường như đang cố kìm chân doanh nghiệp. Không phải từ những đánh giá lạc quan của nhà nước hay các tổ chức nước ngoài, ngay từ năm "đáy" khủng hoảng 2009, một số thị trường như bất động sản, chứng khoán, vàng, ngoại tệ, tài chính đã nhộn nhịp lên cùng chung cuộc bứt phá đáng nể về lợi tức của nhiều doanh nghiệp kinh doanh các lĩnh vực này.

Nhu cầu

Một luồng hút về vốn rất “nóng" trong nền kinh tế nguội lạnh đã đem lại nhiều kỳ vọng về một tương lai thuận lợi và tốt đẹp hơn. Nhu cầu về vốn tăng mạnh, chủ yếu từ nhóm kinh doanh này, đã góp phần quan trọng trong việc tạo đà cho một đợt tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ đến mức một kỷ lục mới về tăng trưởng tín dụng tưởng như đã được tạo nên nếu Chính phủ không quyết liệt can thiệp trong năm 2009.

Doanh nghiệp lo vốn - ảnh 1

Sức hút về vốn cũng đồng nghĩa với tín hiệu tin tưởng, lạc quan được truyền đi từ nhóm ngành nghề này lan truyền cảm hứng sang các lĩnh vực còn nhiều khó khăn khác (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, xuất khẩu). Năm nay, khó có tác động nào có thể làm giảm nhiệt trong trái tim các nhà đầu tư thuộc nhóm lĩnh vực kinh doanh nói trên.

Bằng chứng là tại thời điểm "đáy" họ đã thu về những khoản lợi nhuận vượt xa trông đợi thì có lý do gì để năm nay, năm được đánh giá là thuận lợi hơn, họ phải giảm hưng phấn kinh doanh. Vì thế, nhận định nhu cầu về vốn cho khối doanh nghiệp làm ăn trong lĩnh vực bất động sản, chứng khoán, vàng, ngoại tệ, tài chính sẽ tiếp tục tăng nóng.

Nhưng nhu cầu về vốn không chỉ khoanh vùng trong nhóm doanh nghiệp làm ăn tốt nói trên. Năm nay, ở hầu hết mọi lĩnh vực, các doanh nghiệp sẽ trỗi dậy, lao vào một thời cơ mới. Đối với những doanh nghiệp phục vụ nhu cầu trong nước, năm 2009 đã tạo một đà tăng trưởng rất tốt đẹp cho năm 2010. Nhu cầu thị trường nội địa còn được dự báo sẽ tăng mạnh khiến cho nhiều doanh nghiệp đã lỡ cơ hội trong năm ngoái sẽ nỗ lực quay lại đầu tư. Do đó, dòng vốn sẽ phải chuyển động mạnh mẽ hơn.

Mặt khác, nhu cầu vốn cho khối doanh nghiệp xuất khẩu cũng trỗi dậy. Họ là những doanh nghiệp đã nỗ lực vùng vẫy trong cơn bĩ cực của các thị trường nhập khẩu quốc tế năm ngoái. Năm nay, nhiều nút thắt trên bản đồ xuất khẩu sẽ được mở ra bởi tình hình khủng hoảng đã giảm nhẹ, nhiều nước đã thắt chặt nhập khẩu nay sẽ cởi mở hơn.

Việt Nam là một trong số ít quốc gia xuất khẩu có nền kinh tế ít bị tổn thương bởi khủng hoảng, do đó, các doanh nghiệp xuất khẩu được tin tưởng sẽ có sức cạnh tranh đáng kể. Hơn nữa, nhu cầu về vốn cho xuất khẩu lại được Chính phủ đặt vào hàng ưu tiên vì hoạt động này sẽ đem về ngoại tệ cho nhu cầu trong nước, làm giảm căng thẳng thâm hụt thương mại, bổ sung nguồn thu, do đó còn giảm bớt áp lực tình trạng bội chi ngân sách.

Sự trỗi dậy của khối doanh nghiệp xuất khẩu sẽ đặt áp lực mạnh lên vai các tổ chức tín dụng, đồng thời đẩy mũi tên tăng trưởng tín dụng lên mạnh hơn.

Và khó

Từ cơ sở tăng trưởng tín dụng của năm "đáy” 2009 và nhu cầu tín dụng năm 2010, chúng ta dễ dàng nhìn thấy chỉ số tăng trưởng tín dụng sẽ tăng trưởng "nóng" trong ánh nhìn căng thẳng vì lo ngại lạm phát. Tăng trưởng kinh tế cũng đồng nghĩa với áp lực trên các chỉ số lãi suất cơ bản, tỉ giá cơ bản và chúng quay đầu gây áp lực lên khả năng thanh khoản của nền kinh tế, đẩy đồng nội tệ (VNĐ) trượt giá lớn hơn...

Nhu cầu về vốn tăng theo quy luật thị trường sẽ kéo theo những biến động như trên và hầu hết những biến động này đều gây nên hiệu ứng đáng lo ngại là lạm phát.

Vì thế, chỉ số tăng trưởng tín dụng, chỉ số lạm phát, lãi suất cơ bản, tỉ giá đang được kiểm soát hết sức chặt chẽ. Nhà nước đã ban hành những giới hạn cho các chỉ số này nhằm đảm bảo kinh tế vĩ mô ổn định.

Nhưng những giới hạn này xuất phát từ yêu cầu của kinh tế vĩ mô chứ không phản ánh thực tế thị trường, cho nên nó ảnh hưởng không tốt lên thị trường. Chẳng hạn, với lãi suất trần huy động từ khu vực dân cư được quy định ở mức 10,5% như hiện nay, thực tế nhu cầu về vốn huy động đang rất khó khăn, các ngân hàng cạnh tranh nhau quyết liệt nên họ đã "lách luật” khi đưa ra các chiêu thức thưởng cho các khoản huy động mà tính tổng chi phí cho mỗi khoản vay, thực tế đã vượt qua ngưỡng 10,5%.

Đây chính là lý do khiến nhiều chuyên gia kinh tế lo ngại và họ gọi tình trạng này là thị trường "méo mó" bởi các quyết định hành chính, thậm chí, có ý kiến cho rằng, nên hủy bỏ quyết định hành chính trong lĩnh vực này và để thị trường vận động "lành mạnh".

Tăng trưởng tín dụng hiện nay đã ở mức rất cao - 37,7% - mặc cho đã có nhiều biện pháp kiềm chế cung tiền trong năm 2009.

Giới hạn tăng trưởng này hồi đầu năm 2009, được Ngân hàng Nhà nước thuyết phục Hiệp hội Ngân hàng ở mức 25% - lại một con số xuất phát từ tư duy quản lý vĩ mô - nhưng sau đó, nhu cầu thị trường thực sự nóng bỏng đã đẩy nó qua nhanh “ngưỡng phanh dự kiến” tiếp theo ở mức 30% và đạt đỉnh 37,7%.

Con số sau cùng đúng với nhiều tính toán của giới chuyên gia ngay từ đầu năm 2009.

Cái khó cho nguồn cung vốn hiện nay chính là kênh huy động từ khu vực dân cư nói riêng và hầu hết các kênh khác đang bị "làm khó" khi các nguồn này đòi hỏi lãi suất huy động phải cao hơn trong khi kỳ hạn vay lại tập trung ở kỳ hạn ngắn. Ngân hàng đi vay ngắn hạn để cho vay dài hạn trong tình trạng lãi suất đuổi tiềm ấn rủi ro thanh khoản tăng cao.

Một tín hiệu tích cực mới. Đó chính là con số 15.000 tỷ đồng vừa được Ngân hàng Nhà nước bơm thêm cho các tổ chức tín dụng đã giúp cho khả năng thanh khoản của hệ thống này sáng sủa hơn trong thời gian trước mắt.

Người ta còn nhắc đến và hi vọng con số 20.000 tỷ đồng sẽ được Chính phủ cắt giảm từ hàng loạt các dự án chưa cấp thiết.

Doanh nghiệp lo vốn - ảnh 2

Tuy nhiên, con số này đem lại hiệu quả cho chính sách tài khóa theo chỉ dấu hạn chế bớt chi tiêu công nhiều hơn là một động thái tăng cung tiền vào lưu thông. Vì cơ bản, 20.000 tỷ đồng đó là con số chi cho các dự án "theo kế hoạch" còn việc thực chi lại phụ thuộc vào thực trạng của nền kinh tế mà hiện nay, nguồn thu ngân sách đã giảm mạnh, bội chi ngân sách lớn.

Khi lãi suất ngân hàng bị đẩy lên cao, nó làm khó cho chính cộng đồng doanh nghiệp, đồng thời đẩy lạm phát vào thế nguy hiểm hơn bởi chi phí sản xuất và dịch vụ tăng, kéo theo chỉ số giá CPI tăng lên.

Kết hợp từ yêu cầu ổn định kinh tế vĩ mô, có thể khẳng định rằng, tăng trưởng tín dụng năm 2010 sẽ bị kiểm soát chặt hơn 2009. Sau 15.000 tỷ đồng vừa được tiếp sức, khó có khả năng ngân hàng nhà nước sẽ bơm tiền để "cứu” ngân hàng thương mại trong vòng quay cung tiền chóng mặt. Điều đó có nghĩa rằng, cung tiền chắc chắn sẽ khó đáp ứng cuộc trỗi dậy của cồng đồng doanh nghiệp. Vì thế, vấn đề cung vốn cho doanh nghiệp vẫn là bài toán khó có lời giải thích hợp lý nhìn từ góc độ đầu tư và quản lý.

Minh Hoàng

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại