Ảnh hưởng của suy giảm dân số đối với nền kinh tế
15-07-2015 11:45

(Toquoc)- Khi tăng trưởng dân số chậm dần ở nhiều nước, nguồn lao động trẻ thu hẹp lại, ảnh hưởng lớn đến hiệu suất lao động.

Dân số của phần lớn các nước châu Âu sẽ suy giảm trong thế hệ tới, riêng đối với Đức và Nga, sự suy giảm này sẽ vô cùng mạnh mẽ. quá trình bùng nổ dân số toàn cầu đang đi đến hồi kết khi tỉ lệ sinh của nữ giới đang giảm dần, dù ở xã hội nghèo nhất hay giàu có nhất, Tiến sĩ George Friedman, Chủ tịch Hội đồng Quản trị của Công ty Tình báo Toàn cầu Stratfor nhận định.

Để duy trì sự ổn định dân số, tỉ lệ sinh phải giữ ở mức 2,1 trẻ sơ sinh trên một phụ nữ. Trên mức này thì dân số tăng; dưới mức này thì dân số giảm. Ở các nước công nghiệp hiện đại, tỉ lệ sinh hiện đã thấp hơn mức 2,1 rất nhiều. Nghiên cứu chỉ ra ở Tây Ban Nha, từ năm 2008-2011, tỷ lệ sinh giảm khoảng 8%, t1,46 xuống khoảng 1,38; tỷ lệ sinh sản của Na Uy giảm từ 1,95 xuống 1,88 trong những năm 2010-2011. Cơ quan thống kê Istat, Italy ngày 16/6/2014 cũng cho biết, trong năm 2013, nước này đã rơi vào mức suy giảm dân số tồi tệ nhất với tỷ lệ sinh giảm 3,7%.

Tại các quốc gia tầm trung như Mexico hay Thổ Nhĩ Kỳ, tỉ lệ sinh đang giảm nhưng sẽ không xuống tới mức 2,1 cho đến giữa những năm 2040 và 2050. Tại các quốc gia nghèo nhất như Bangladesh hay Bolivia, tỉ lệ sinh cũng đang giảm, nhưng sẽ mất cả thế kỷ này mới xuống đến mức 2,1.

Ảnh hưởng của suy giảm dân số đối với nền kinh tế - ảnh 1
Biểu đổ Tỉ lệ phụ thuộc người già qua các năm 2020, 2060 và 2100 (số người già trên 100 người trong độ tuổi lao động)

Ảnh hưởng từ đô thị hóa

Có nhiều lí do dẫn tới sự suy giảm này nhưng nhưng công nghiệp hóa- đô thị là trung tâm của vấn đề.

Trong những xã hội nông nghiệp và công nghiệp trình độ thấp, trẻ em là (một phần) lực lượng lao động. Trẻ em 6 tuổi có thể giúp đỡ làm nông nghiệp hoặc các công việc đơn giản trong phân xưởng. Trẻ em trở thành một nguồn thu nhập và càng nhiều trẻ em thì càng có lợi. Cũng do không có kế hoạch hưu trí nào khác bằng việc một gia đình đông con sẽ dễ dàng phụng dưỡng cha mẹ hơn khi tuổi già.

Còn trong xã hội thành thị phát triển, giá trị kinh tế của trẻ em sụt giảm. Trẻ em chuyển từ công cụ sản xuất sang đối tượng tiêu thụ tốn kém, cơ hội kiếm được việc làm khi còn nhỏ không chỉ giảm đi, mà yêu cầu về trình độ học vấn cũng tăng lên đáng kể. Trẻ em cần được hỗ trợ lâu dài hơn, đôi khi đến giữa độ tuổi 20.

Chi phí cho trẻ em cũng chiếm một khoản lớn so với thu nhập hạn chế của cha mẹ. Do vậy, người ta ít sinh đẻ hơn. Các biện pháp kiểm soát sinh đẻ chỉ đơn thuần cung cấp công cụ để phục vụ điều được cho là cần thiết về mặt kinh tế. Với đa số người dân, một gia đình tám con là một thảm họa tài chính. Trung bình, 1 phụ nữ sẽ đẻ tối đa 2 con hoặc ít hơn. Kết quả là dân số giảm.

Gánh nặng cho người trẻ

Sự giảm sút dân số, đặc biệt là trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi thế hệ già hơn qua đời, sẽ khiến một số lượng nhỏ người lao động phải nuôi một số lượng lớn người đã nghỉ hưu, đặc biệt khi tuổi thọ trung bình tại các quốc gia công nghiệp tiên tiến ngày một tăng.

Theo báo cáo của Tổ chức Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA),giai đoạn 2010-2015, tuổi thọ trung bình ở các nước phát triển là 78 năm và ở các nước đang phát triển là 68 năm. Đến giai đoạn năm 2045-2050, dự báo tuổi thọ trung bình sẽ tăng tới 83 năm ở các nước phát triển và 74 năm ở các nước đang phát triển.

Bên cạnh đó, thế hệ trẻ, ngày càng ít người hơn cũng buộc phải trả những khoản nợ mà thế hệ già hơn đã vay mượn, điều dễ dẫn tới bất ổn kinh tế. Bộ Nội vụ Nhật Bản ước tính, dân số nước này hiện ở mức 127,1 triệu người (tính đến ngày 1/10/2014). Con số này giảm 215.000 người so với năm trước đó, theo số liệu công bố ngày 17/4 vừa qua. Điều này đồng nghĩa với sự suy giảm về dân số trong năm thứ 4 liên tiếp tại nước này, số lượng người già cao gấp đôi so với số lượng trẻ em, 16,2 triệu em với 33 triệu người già (từ 65 tuổi trở lên).

Tại Nga, tỷ lệ suy giảm dân số năm 2011 của nước này là 21 nghìn người/năm, đã có nhiều tiến bộ so với con số 1,5 triệu người/năm vào năm 1999 nhưng vẫn rất đáng lo ngại trong bối cảnh nền kinh tế Nga đang suy thoái.

Một số quan điểm khác còn cho rằng quyền lực chính trị của một quốc gia cũng sẽ giảm cùng với dân số, điều này dựa trên giả định rằng lực lượng quân sự có thể được triển khai – và được trả lương – sẽ giảm cùng với việc dân số trở nên ít hơn.

Một trong những giải pháp cho vấn đề này là thực hiện chính sách nhập cư. Một số quốc gia phát triển như Nhật Bản và châu Âu gặp phải một số rào cản văn hóa trong việc tiếp nhận người nhập cư, đặc biệt là với những người nhập cư từ thế giới Hồi giáo. Riêng đối với Mỹ, nước có tỉ lệ sinh đối với phụ nữ da trắng ở mức khoảng 1,9, dân số người da trắng đang giảm nhưng đã được bù đắp bởi số lượng gia tăng người Mỹ gốc Phi và gốc Mỹ Latinh.

Với chính sách nhập cư này, nước Mỹ đang đối mặt với một vấn đề đã nhức nhối từ lâu của văn hóa nước này: chủng tộc. Còn Châu Âu và Nhật Bản thì chưa có mô hình khả thi nào đối với việc tiếp nhận người nhập cư.

Thay đổi trong mối quan hệ lao động và vốn

Dân số giảm có thể có một tác động khác mạnh mẽ hơn. Dân số thế giới đã giữ ở mức ổn định cho đến giữa thế kỷ 16. Tỉ lệ gia tăng dân số bắt đầu tăng từ khoảng năm 1750 và tiếp tục tăng đều đặn cho đến đầu thế kỷ 20 rồi đột nhiên tăng mạnh. Trong suốt khoảng 500 năm qua, dân số tăng với tốc độ ngày một cao.

Điều đó có nghĩa là trong lịch sử phát triển của nền công nghiệp hiện đại và chủ nghĩa tư bản, số lao động luôn dư thừa trong khi có sự thiếu hụt vốn tư bản để mở rộng sản xuất, điều này định nghĩa vốn trở nên đắt hơn so với lao động nếu so trên cùng một lượng tương đương. Vì ngày càng có nhiều trẻ em được đều đặn sinh ra, nguồn cung lao động có xu hướng tăng làm giảm giá lao động.

Hiện nay, tình trạng này đang dần tự đảo chiều. Ít trẻ em được sinh ra hơn có nghĩa là lực lượng lao động sẽ thu hẹp lại và giá cả của tất cả các loại lao động sẽ tăng lên.

Giờ đây vốn, hiểu theo nghĩa chính xác của nó là phương tiện sản xuất, sẽ dư thừa trong khi lao động khan hiếm. Những nhà máy kinh tế đang sẵn sàng hoạt động và được xây nên trong thời gian tới sẽ không biến mất. Cùng lắm chúng cũng chỉ không được sử dụng hết công suất, và điều này có nghĩa là lợi nhuận trên vốn sẽ giảm. Nói trên phương diện tiền bạc, xã hội sẽ bước vào một thời kỳ mà tiền sẽ trở nên rẻ hơn và lao động ngày một đắt đỏ hơn.

Sự phân bố của cải trên thực tế sẽ thay đổi. Hiện tại, sự tích tụ của cải đã dịch chuyển ở mức rất đáng kể vào tay ngày càng ít người hơn, và khoảng cách giàu- nghèo cũng đang nới rộng. Nếu giá trị đồng tiền giảm và giá lao động tăng, khoảng cách rộng lớn này sẽ thay đổi.

Dân số vẫn đang giảm thậm chí ở những quốc gia chưa phát triển, và ở những nơi xảy ra quá trình đô thị hóa nhưng nền nông nghiệp tiền công nghiệp đang suy thoái thì hậu quả là rất nghiêm trọng. Tuy nhiên, các quốc gia thuộc thế giới thứ hai và thứ ba sẽ trải qua sự suy giảm dân số sau khi các quốc gia phát triển đã thực hiện xong những điều chỉnh và rút ra những bài học nhất định.

Binh Tuong
Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại