Quản lý bệnh hại rau do nấm trong đất
26-06-2016 10:37

Những tác nhân gây thiệt hại trên đồng ruộng được người nông dân trồng rau rất quan tâm chú trọng, đặc biệt là những vấn đề sinh vật hại. Trong đó, vấn đề bệnh hại rau do nấm trong đất là một vấn đề mà người nông dân còn gặp nhiều khó khăn trong việc quản lý và phòng trừ.

Do đó, việc hiểu được những đặc điểm, phương thức gây hại của nhóm nấm gây bệnh trong đất sẽ giúp đưa ra được những biện pháp phòng trừ thích hợp và có hiệu quả cao nhằm hạn chế đáng kể những thiệt hại do nấm trong đất gây ra trên cây rau.

Nấm được xếp vào nhóm sinh vật, nhưng không giống như Rong Tảo, nấm không chứa diệp lục tố. Cấu tạo thường là đơn bào hoặc đa bào, có thể quan sát dưới kính hiển vi hoặc nhìn bằng mắt thường, chúng có thể đo được từ vài microns cho tới vài centimeters có khi tới vài metters, trường hợp nấm có quả thể ở Lớp Đảm khuẩn (Basidiomycetes).

Đặc điểm của nhóm nấm gây bệnh trong đất:

Nấm có cơ quan sinh trưởng dạng sợi, phân nhánh. Một tập hợp nhiều sợi nấm sinh trưởng tạo thành tản nấm là thể dinh dưỡng của nấm. Sợi nấm không có màng ngăn gọi là sợi đơn bào và sợi nấm có nhiều màng ngăn gọi là sợi đa bào. Chiều rộng của sợi nấm biến động trong khoảng 0,5-100 µm, phần lớn từ 5-20 µm, chiều dài thay đổi tùy theo các loại nấm và điều kiện dinh dưỡng. Nấm có thể sợi không màu hoặc có màu khác nhau.

Nấm đất gây bệnh có thể tồn tại trong đất trong thời gian rất dài kể cả trong điều kiện không có cây ký chủ. Chúng bảo tồn bằng các sợi nấm, hạch nấm, hậu bào tử, bào tử trứng và những bào tử có vách dày ở trong đất và trên tàn dư cây trồng.

Nấm xâm nhiễm, gây hại cây trồng làm cho rễ và các tế bào mạch dẫn của cây không còn khả năng hút nước và chất dinh dưỡng từ giá thể. Vì vậy mà các triệu chứng của bệnh nấm đất gây ra thường rất giống nhau, đều gây héo vàng, còi cọc và chết cây.

Nhiệt độ thích hợp nhất của nấm là 25 – 28 0C, nhiệt độ thấp nhất là 5 – 10 0C, cao nhất là 35 0C. Vì vậy hầu hết các loại nấm không thể phát triển trong cơ thể con người, pH thích hợp nhất cho nấm là 6 – 6,5. Điều kiện lạnh khô thích hợp cho nấm bảo tồn hơn là điều kiện nóng ẩm.

Có nhiều phương thức để nấm bệnh xâm nhập vào cây, cụ thể như:

- Sclerotinia, Sclerotium và các nấm hoặc vi khuẩn gây héo cây --> Lây bệnh vào thân cây.

- Septoria, Colletotrichum --> Lây bệnh lên lá (trong điều kiện để ẩm).

- Pythium, Phytophthora, Fusarium, Rhizoctonia --> Lây bệnh vào đất theo dạng hỗn hợp.

- Sclerotium, Rhizoctonia --> Lây bệnh vào đất theo dạng lớp mỏng.

- Héo vi khuẩn và Fusarium --> Dịch bào tử (có hoặc không gây vết thương cơ giới).

Một số bệnh do nấm đất gây ra trên rau:

- Chết cây con, thối rễ: do nấm Pythium speciesa; P. phanidermatuma; P.myriotiluma, P.spinosuma (bào tử tồn tại trong đất); du động bào tử lan truyền qua nước trong đất và nước mưa hoặc nước tưới.

- Nhiều bệnh ở rễ, thân, lá và quả của cây trồng lâu năm: do nấm Phytophthora palmivora (Bào tử hậu, sợi nấm tồn tại trong tàn dư cây bệnh và có thể cả bào tử trứng trong đất); du động bào tử lan truyền qua nước trong đất và nước mưa hoặc nước tưới.

- Thối gốc (héo nhanh) hồ tiêu, thối rễ ớt: do nấm Phytophthora capsicia
(bào tử hậu, sợi nấm tồn tại trong tàn dư cây bệnh trên ruộng và có thể cả bào tử trứng trong đất); du động bào tử lan truyền qua nước trong đất và nước mưa hoặc nước tưới.

- Thối nõn dứa: do nấm Phytophthora nicotianaea (bào tử hậu, sợi nấm tồn tại trong tàn dư cây bệnh và có thể cả bào tử trứng trong đất); bào tử hậu trong đất, du động bào tử lan truyền qua nước trong đất và nước mưa hoặc nước tưới.

- Héo Fusarium: do nấm Fusarium oxysporum, Fusarium sp. (bào tử hậu tồn tại trong đất, xâm nhiễm cả rễ cây không phải là ký chủ); mạch dẫn hóa nâu.

- Thối thân và quả: do nấm Sclerotinia sclerotiorum (hạch nấm lớn, màu đen tồn tại trong đất), hạch nấm là dấu hiệu chẩn đoán trên đồng ruộng.

- Thối gốc thân: do nấm Sclerotium rolfsii (hạch nấm tròn, nhỏ, màu nâu tồn tại trong đất); hạch nấm là dấu hiệu chẩn đoán trên đồng ruộng.

- Chết cây con, thối rễ và thân: do nấm Rhizoctonia sp. (hạch nấm hoặc sợi nấm điển hình trên tàn dư cây bệnh tồn tại trong đất); hạch nấm là dấu hiệu chẩn đoán cho một số loài trên đồng ruộng; sợi nấm phân nhánh vuông góc trong mẫu cấy trên môi trường khi phân lập giám định.

Nấm trong đất là tác nhân của nhiều bệnh gây thiệt hại lớn cho cây trồng và thường khó phòng trị nếu không có biện pháp quản lý nguồn giống và môi trường đất trồng ngay từ giai đoạn đầu.

Biện pháp phòng trừ

1. Biện pháp canh tác:

Vệ sinh đồng ruộng: Sau thu hoạch hoặc trước khi canh tác cần thu dọn, tiêu hủy tàn dư thực vật và làm sạch cỏ dại vì đây là nguồn lưu tồn và lây lan quan trọng nhất. Thu nhổ và tiêu hủy các cây rau đã biểu hiện triệu chứng nhiễm bệnh.

Làm đất: Đất trồng rau phải tiêu thoát nước tốt, đất tơi và xốp. Khi đất quá ẩm hãy đào rãnh quanh luống rau để nước thoát xuống mương. Biện pháp này sẽ giúp làm chậm quá trình lây bệnh sang các cây khác trong vườn rau.

Trong mùa mưa nếu lứa rau trước đó đã nhiễm bệnh trước khi gieo trồng từ 15-20 ngày nên đặt những tấm nhựa lên đất sau đó bón vôi vào đất và cuốc lật phơi đất thêm vài ngày để ánh sáng sẽ làm nóng đất và nhiệt độ cao sẽ giết chết nhiều vi sinh vật trong đó có cả những tác nhân gây bệnh ở tầng đất bề mặt.

Về giống : Luân canh cây trồng khác họ. Sử dụng giống kháng. Không dùng hạt giống có mầm bệnh (lấy ở ruộng có cây bị bệnh). Xử lý hạt giống bằng nước nóng 500C trong 25 phút.

Mật độ trồng vừa phải không quá dày để tránh bớt ẩm độ khi lá giao tán;

Phân bón: Nên bón lót phân hữu cơ vi sinh hoặc phân chuồng đã ủ hoai cho rau. Sử dụng cân đối N-P-K, không bón nhiều phân đạm cho rau. Ngưng bón phân đạm khi bệnh đang phát triển. Bón vôi trước khi trồng và xử lý đất trước khi xuống giống bằng các loại thuốc gốc đồng. Dùng phân hữu cơ hoai mục, có nhiều vi sinh vật đối kháng làm hạn chế nguồn bệnh. Bón phân cân đối hợp lý, tránh bón đạm quá nhiều.

2 Biện pháp cơ giới vật lý: Nhổ bỏ cây bị bệnh kịp thời, phải hạn chế tưới nước, tránh bệnh lây lan trên ruộng. Tránh gây tổn thương rễ trong quá trình trồng trọt, chăm sóc.

3. Biện pháp sinh học: Sử dụng các chế phẩm từ nấm Trichoderma bón vào đất trước khi trồng.

4. Biện pháp hóa học: Biện pháp hóa học thường có hiệu quả thấp do tác nhân gây bệnh tồn tại chủ yếu trong đất, xâm nhiễm gây hại ở bộ phận rễ, cổ rễ thân sát mặt đất. Tuy nhiên, trong những trường hợp bệnh hại nặng có thể dùng một số loại thuốc phun để tăng cường sức đề kháng cho cây và hạn chế bệnh lây lan như: Rovral, Ridomil MZ, Viroval, Hạt vàng, Carbendazim, Benlat... (dùng đối với bệnh do nấm Sclerotium rolfsii); Aliette, Ridomil, Phosacide... (dùng đối với bệnh do nấm Phytophthora capsici); Streptomycine 50-200ppm, Kasamin, Starner... (dùng đối với bệnh do vi khuẩn)./.

HÌNH ẢNH THAM KHẢO

 

 Quản lý bệnh hại rau do nấm trong đất - ảnh 1

Hình 1. Triệu chứng gây hại do nấm Pythium sp. trên cây đậu phộng (a), cây ngô (b) và bào tử nấm Pythium sp. (c)
Quản lý bệnh hại rau do nấm trong đất - ảnh 2

Hình 2. Triệu chứng gây hại do nấm Phytophthora palmivora gây ra trên trái ớt (a), cây cà chua (b) và bào tử nấm Phytophthora palmivora (c)
Quản lý bệnh hại rau do nấm trong đất - ảnh 3

Hình 3. Triệu chứng gây hại do nấm Fusarium sp. gây ra trên cây đậu phộng (a) (b) và cây bắp (c)
Quản lý bệnh hại rau do nấm trong đất - ảnh 4

Hình 4. Triệu chứng gây hại do nấm Sclerotinia sclerotiorum gây ra trên cây cải bông (a) và cây đậu côve (b)
Quản lý bệnh hại rau do nấm trong đất - ảnh 5

Hình 5. Triệu chứng gây hại do nấm Sclerotium sp
Quản lý bệnh hại rau do nấm trong đất - ảnh 6

Hình 6. Triệu chứng gây hại do nấm Rhizoctonia sp

Nguồn: Chi Cục Bảo Vệ Thực Vật Tp.HCM

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại