Ánh sáng trong “Bão trở”
17-11-2015 12:27

“Bão trở” là một trường ca khá dài hơi của Đoàn Hữu Nam (NXB Văn hóa dân tộc , 2015) viết về đề tài dân tộc thiểu số ở Lào Cai trong thời kỳ đánh Pháp, tiễu phỉ, “mảnh đất” ít có nhà thơ khai phá để viết trường ca. Ghi nhận đầu tiên trong “Bão trở” là tác giả đã kết khá hợp nhuần nhuyễn hai yếu tố tự sự và trữ tình, mang tính sử thi hoành tráng về cả phương diện nội dung, tư tưởng và cấu trúc nghệ thuật. Tác phẩm được viết nên bằng một cảm hứng mạnh mẽ, cảm xúc tuôn trào gắn liền với những chấn động lớn lao của người Dao từ thuở sơ khai đến cuộc thiên di, đến định cư, gây dựng cuộc sống mới, đặc biệt hòa đồng trong cuộc đấu tranh để trường tồn cùng đất nước. Có thể nói “Bão trở” mang bóng dáng anh hùng ca, như cầu nối quá khứ và hiện tại.


Ánh sáng trong “Bão trở” - ảnh 1
Bìa sách

Có lẽ sau tiểu thuyết “Thổ phỉ” khá thành công Đoàn Hữu Nam vẫn ám ảnh, day dứt trước những phận người vùng cao Lào Cai xưa nghèo nàn, lạc hậu, bị những phần tử phản động xúi giục, lôi kéo chống lại chính đồng bào và quê hương mình, sự hy sinh của bao chiến sĩ cùng những người dân hiền lành nhưng vô cùng quả cảm vì sự bình yên cho quê hương đất nước. Những nỗi đau hằn vào lịch sử. Nếu như trong tiểu thuyết “Thổ phỉ” anh như người “đứng từ xa” để chiêm nghiệm và xây dựng tính cách nhân vật thì ở trường ca “Bão trở” anh đã là người trong cuộc, đã cùng hít thở bầu không khí của nhân dân các dân tộc Lào Cai, thấu hiểu đời sống của con người, gia đình, cảnh ngộ, dẫu chủ ý hay lầm lạc, bởi mỗi tấc đất, mỗi dấu chân, mỗi ký ức đều như chạm vào lịch sử, vì vậy trường ca không chỉ nói giùm tâm tư, tình cảm, ý chí của bao người mà còn như tiếng lòng của nhà thơ với mảnh đất đau thương và anh dũng này. Đọc “Bão trở” của Đoàn Hữu Nam ta thấy ý nghĩa lịch sử, xã hội, nhân văn rộng lớn của trường ca gắn liền với tính sử thi hoành tráng.

Xuyên suốt 17 chương với gần 3000 câu thơ, trường ca “Bão trở” như một dòng chảy lịch sử không theo cấu trúc thông thường mà như một dòng hồi ức của người trong cuộc trong các chiều không gian và thời gian từ khi: Bản của tôi bắt đầu từ một nhúm người/ Người từ phương Bắc/ Kẻ từ phương Đông…/ Trong mưa đuổi bão dồn/ Nghìn người nghìn đường/ Đường nào cũng về đất chết/... Họ ngửa mặt xin giời/ Cúi mặt xin đất/ Giơ tay cầu người!...”. Đây là trường đoạn nói về người Dao do nhiều yếu tố lịch sử phải đi tìm miền đất hứa và họ dừng chân ở Lào Cai, nơi đất lành chim đậu. Vì vậy nói về cuộc thiên di và định cư, hòa đồng với đại gia đình các dân tộc Việt Nam của người Dao nhưng thực chất Đoàn Hữu Nam đã khái quát sự hòa đồng của nhiều dân tộc có chung cảnh ngộ trên đất Lào Cai và Tổ quốc Việt Nam yêu dấu. Trong cuộc sống còn nhiều khó khăn vất vả đó con người vẫn giữ được bản sắc văn hóa của mình: “Bản của tôi!.../ Cây tựa cây/ Người tựa người/ Nhà nhà chung gốc/ Chọc lỗ bỏ hạt/ Dệt vải xe bông/ Cô dâu theo hướng Đông vào lạy bàn thờ”. Tác giả khá tài hoa trong xử lý chất liệu nghệ thuật bắt đầu từ những nhọc nhằn của tộc người tha phương cầu thực tưởng chừng sẽ bị giông tố cuộc đời vùi dập nhưng vẫn giữ được tinh hoa văn hóa của tổ tiên, và phải chăng đấy sẽ là động lực để họ vượt lên muôn vàn khó khăn gian khổ, chiến đấu và chiến thắng trước kẻ thù hai chân và bốn chân. Cảm xúc chủ đạo ấy xuyên suốt trường ca, làm cho trường ca liền mạch và mang hơi thở của thời đại. Cái độ “lùi” cùng sự chiêm nghiệm chín muồi giúp cho Đoàn Hữu Nam bật lên những cung bậc của cảm xúc một cách tự nhiên mà không kém phần tinh tế. Những người đã trải qua bão tố ấy vẫn dặn dò nhau đời này sang đời khác: Ông còn bảo con người dẫn dắt mặt trời hay mặt trời dẫn dắt con người/ Hãy hỏi những ngôi nhà bám vào vách đá!”. Câu hỏi tu từ khá đắt “ông” - con người tượng trưng cho lớp người đi trước, đầy sự trải nghiệm đường đời, dẫu có “mặt trời” đầy ánh nắng và lý tưởng nhưng nếu con người không thuận theo quy luật thì mặt trời kia chỉ như ảo ảnh và hãy hỏi: “Những ngôi nhà bám vào vách đá!” của những con người từng trải qua bao khắc nghiệt của cuộc sống mới tồn tại được và sống đúng nghĩa con người. Đấy là một trong những cái hay và thành công của “Bão trở”. Trong bối cảnh lịch sử cụ thể trong đó mỗi con người, mỗi dân tộc đều luôn có ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Điều đó sẽ làm nên sức mạnh chiến đấu và chiến thắng. Cái điều mà nhiều người tốn bao giấy mực để chứng minh: văn hóa còn thì dân tộc còn được Đoàn Hữu Nam diễn đạt một cách cụ thể và sinh động. Phải chăng đấy là điểm tựa cho mỗi người, mỗi dân tộc trong quá trình đấu tranh với chính mình, với mọi trở lực để tồn tại và phát triển?

Có thể nói qua “Bão trở” biết Đoàn Hữu Nam hiểu rất rõ phong tục tập quán của người Dao, nhưng quan trọng hơn anh đã xây dựng thành một biểu tượng thi ca, đồng thời cũng là sự tất yếu của cuộc sống: con ngườì khi sống thuận theo qui luật của đất trời sẽ ngày một sinh sôi phát triển, không phải ngẫu nhiên người “cha” trong trường ca nói lên quan điểm của mình: “Cha tôi bảo quá khứ là cái dùi nung đỏ/ Xuyên qua đêm, xuyên qua tháng, qua ngày”. Câu thơ nhẹ như không mà đầy sức gợi, nối liền quá khứ và hiện tại. Ta thử tìm hiểu những con người luôn có ý thức sống và giữ gìn văn hóa truyền đời ấy “truyền lửa” cho đời sau như thế nào: Cha tôi bảo biết lột xác là đớn đau/ Tổ tiên nhường đường cho rắn/ Để cháu con bới tan hoang gầm trời/ Thuốc trường sinh vẫn ngoài tầm với/ Nhưng với ông lại khác/ Một đời luyện tôi lý lối/ Một đời chữ nghĩa thánh hiền/ Một đời ăn quả nhiều rừng/ Uống nước nhiều suối/ Chân mài đá/ Đầu mài trời/ Ông là cây lim không biết già/ Dây mài không biết chết/ Ông như ngôi nhà của mình”. Tư tưởng chủ đạo của trường ca cứ phát lộ dần. Những con người biết chắt lọc tinh hoa của cuộc sống kia sẽ hái được bao điều hữu ích cho mình và cho đời sau, bởi theo thời gian những con người lam lũ kia hiểu rất rõ. Tác giả hóa thân vào trong cuộc sống ấy: “Tôi lớn lên/ Thừa hưởng nghiệp nhà/ Thừa hưởng con đường lý lối/ Trong căn nhà đời nối đời nuôi lửa/ Ông tôi truyền chữ cho tôi/ Chữ trong bồ/ Chữ trong lòng/ Chữ nghìn năm lý lối/ Chữ chênh vênh hai mố Sống - Còn…”. “Lý lối” ấy chính là những luật tục đúc rút qua hàng ngàn năm đấu tranh sinh tồn và đã trở thành đạo lý của cả cộng đồng. Khoảng cách về không gian và thời gian như được kéo lại gần nhau và khi đã trải qua được những yêu cầu khắt khe của luật tục, của đạo làm người mỗi con người như được vượt qua thử thách được coi là “người”: Tôi đã chui vào ma trận người, ma trận rừng, ma trận giời/ Và tôi thấy giời gần, rừng tràn, còn con người quấn nhau như cây mây cây mái/ Tôi bỗng được một cụ già khoác lên vai chiếc áo màu rừng/ Đặt vào tay ngọn bút/ Tôi vung bút lên trời/ Hai chữ Bình Yên đậu lại/ An lành phúc đức dâng dâng”.

Trong “Bão trở” của Đoàn Hữu Nam có rất nhiều nhân vật được gọi với những đại từ nhân xưng như: ông, bà, cha, mẹ, anh, chị... và ta thấy tác giả hòa mình trong cộng đồng nhân ái mang đặc thù của cộng đồng người Việt trong một hoàn cảnh đặc biệt: Tôi lớn lên giữa lúc cách mạng về/ Cách mạng thế như phường săn đuổi thú/ Như dân bản đuổi gấu ăn trăng/ Cả vùng như lên đồng/ Như ruốc cá trên suối/ Cách mạng khiến đội quân Thiên Hoàng ngậm đắng nuốt cay trôi xuôi theo dòng sông/ Khiến người Pháp ôm hận phục thù nằm bên kia biên giới/ Khiến những kẻ đục nước béo cò/ Những kẻ tránh voi tìm hổ/ Những người ngủ đêm ngủ ngày/ Những người kéo vịt về phá mả/ Những kẻ chuyên đánh người đánh mình/ Những kẻ…/ Những người…/ Thời thế bám theo chân ngựa”. Chỉ mấy câu thôi mà lịch sử đấu tranh chống Pháp của nhân dân các dân tộc Lào Cai được tái hiện một cách sinh động. Chính vì hiểu sâu sắc kẻ thù, hiểu chính mình, ngày chiến thắng mới tưng bừng rộn rã, sự hồi sinh nẩy nụ đơm hoa trong lòng mỗi người cùng vạn vật: Trong cánh rừng vừa đi qua cơn mưa/ Bản náo nức bước vào mùa liềm hái/ Bụng ai cũng đầy gió tự thổi/ Mặt ai cũng rạng rỡ hân hoan/ Ngày ngày người lớn trẻ con chui vào mít tinh cổ động/ Khẩu hiệu chăng khắp ngõ khắp đường/ Đêm đêm bản họp chợ bên bếp lửa/ Lửa tàn lòng người chưa tàn/ Không ăn cũng no chuyện đời mới/ Không uống cũng no gió nồm nam/ Những bài hát ngược lòng sông lòng suối/ Thắp lên ngọn lửa giữa rừng”. Không reo vui sao được khi cách mạng về mở ra một con dường thênh thênh cho dân tộc, một sự hoàn sinh kỳ diệu như mùa xuân non tơ: “Con đường mới mở ra trang sử mới/ Dẫn núi rừng đi trong khát khao/ Cho anh, cho em và nông nổi/ Dắt nhau đi trong tiếng trống thì thùng”. Chính quyền mới non trẻ được thành lập, trong đó thực hiện chính sách hòa hợp dân tộc nên ta đã sử dụng hầu hết các thổ ty vào nắm các chức vụ trong chính quyền, nhưng cũng vì vậy mà kẻ thù lợi dụng lôi kéo. Những người “đầu mài trời, chân mài đá” đã nhận ra ngay điều đó: “Ông tôi bảo lũ đi qua mặt nước đã yên/ Nhưng đáy suối bùn tầng tầng lớp lớp/ Chính quyền mới dựng từ quan chức cũ/ Đến đến du kích dân quân cũng lấy cũ lắp vào/ Thì làm sao mà mới được!/ Ông còn bảo đừng vội mừng khi rắn bỗng ngủ đông/ Hổ bỗng hiền như thỏ/ Rừng bỗng hoang như thủa khai sinh!”. Và rồi lòng hận thù của những kẻ từng “ăn cơm ma uống nước quỷ” như ngọn lửa âm ỉ chờ cơn giông gió để bùng lên đã thành sự thật: “Lời ông lời cha như lời sấm/ Chưa hết tháng Giêng bão lũ đã tràn về/ Khắp vùng rừng ngập Pháp thật Pháp giả/ Bản bản nghênh ngang kẻ rước voi dầy mồ/ Khắp vùng rừng sáng tối đè nhau/ Trắng đen mất còn lẫn lộn/ Những trận đòn thù/ Những trận càn đẫm máu/ Những thủ lĩnh bao đời nuôi cát cứ/ Nối khát khao bằng dao kiếm cung tên/ Những khẩu súng ngủ vùi trên gác bếp, mái tranh/ Chạy vào tay kẻ say thù, say máu…”. Chính chúng đã tiếp tay cho kẻ ác, trực tiếp gây ra tội ác, đã làm cho bản làng tan hoang trong tận cùng đớn đau mất mát: Sau bão lũ bản rỗng người nhóm bếp/ Ngựa nhớ yên cương lưng võng chân chồn/ Những đứa trẻ chân trần trèo qua đồi gianh/ Không biết gì sắc nhọn/ Những cụ già thôi ngồi bên bếp/ Lang thang trong tơ tướp núi rừng…”.

Nhân dân các dân tộc Lào Cai không bao giờ chịu khuất phục, lý tưởng luôn đem lại niềm tin và soi đường dẫn lối cho mỗi người: “Cha tôi bảo cuộc đời có ba mươi ngả đường ngang/ Chín mươi ngả đường dọc/ Dẫu là ngang là dọc/ Cái đích vẫn là dòng sông!”. Cái tôi trữ tình được cộng hưởng, thăng hoa cùng ý thức công dân được thể hiện tự nhiên như dòng sông băng băng chảy về biển lớn: “Cùng bao người con đường mới tôi theo/ Tiếng trống Cam Đường bùng bừng thúc lửa/ Tôi đã gặp những con người lam lũ/ Gặp dòng sông phủ trắng sóng bạc đầu/ Bên dòng sông chúng tôi sát bên nhau/ Quốc ca cất lên bằng nhiều thứ tiếng/ Đau khổ kết trăm người làm một/ Tay trong tay mắt trong mắt tưng bừng.”. Tình đoàn kết keo sơn, chung sức chung lòng của các dân tộc anh em được diễn đạt tự nhiên như hơi thở, như qui luật tất yếu, nên khi bộ đội như cơn lũ cuốn kẻ thù khỏi rừng khỏi núi bản làng đã: Sau đêm mưa bầu trời tự rửa/ Nong trời như mắt hươu mắt nai./ Mặt trời nhuộm từng lá cây ngọn cỏ/ Náo nức, hân hoan, tản ra, quần tụ/ Rừng núi ngân nga bài ca lâng lâng”. Trong niềm vui chung ấy, mỗi người nhận ra chân lý đích thực của cuộc sống và: “Ai cũng thấy mình vụt lớn/ Cũng thấy mình là cái cân/ Cân đong xưa, nay, được, mất”.

Trong “Bão trở” Đoàn Hữu Nam có nhiều trường đoạn về lửa. Lửa tin yêu trong mỗi trái tim người, lửa soi sáng trên con đường hướng tới tương lai, lửa ấm lòng trong mỗi bếp hồng bình dị... và thật bất ngờ khi gặp hình ảnh: Ngày xưa Tổ quốc với ta là bếp lửa nhà mình/ Là mảnh ruộng mảnh nương cha cấy cầy sớm tối/ Là cánh rừng ta gặp em vồi vội/ Để câu nhớ câu thương ấm ức mãi trong lòng”. Tổ quốc và tình yêu với quê hương đất nước được diễn tả thật cụ thể, không thể tách rời.

Trong lịch sử cũng như trong ký ức của những người từng sống, am hiểu về Lào Cai trong những năm năm mươi của thế kỷ trước đều ám ảnh nạn thổ phỉ cùng những tàn tích khủng khiếp cho mỗi người, mỗi bản làng, điều này được Đoàn Hữu Nam tái hiện một cách sống động, day dứt:Ngày như đêm/ Bếp không nuốt củi/ Đêm không nuốt người/ Người lặng câm/ Đất lặng câm/ Tiếng khóc cũng lặng câm bên cái nùn rơm ngún lửa/ Sáng tối nhập nhòa / Nhà nào cũng nói không với phỉ/ Nhưng cả bản không thấy bóng đàn ông bổ củi, cày bừa/ Cả rừng không có bóng đàn bà lấy rau, lấy măng/ Nước vẫn chảy xuôi nhưng tội ác lúc có lúc không, vẫn xuyên ngày xuyên đêm/ Xuyên qua những vòng đời ngắn ngủi/ Chúng vỗ mặt/ Chúng vu hồi/ Chúng làm cho bản không tin bản, rừng không tin rừng, người không tin người…”.

Cuộc chiến đấu giành đất, giành lại lòng tin của nhân dân lúc đó vô cùng khốc liệt. Nỗi đau tận cùng của sự tan đàn xẻ nghé đi vào từng gia đình, nhưng đấy cũng là lúc cái chân và cái giả bộc lộ rõ nét nhất:Trong đêm đen trong thăm thẳm rừng sâu/ Cũng là lúc ngẫm con đường vấp ngã/ Cả đội trước phiên tòa/ Được mất bày ra/ Chủ nợ là ai/ Mắc nợ là ai.../ Trong bão tố ai đo được lòng giời?/ Sau lũ dâng ai quên đo lòng người?/ Ai đã để kẻ thù đẩy ra rừng?/ Để kẻ thù gom dân vào chảo?/ Ai?.../ Ai?.../ Ai?.., những câu hỏi như xoáy vào lòng người, xoáy vào lịch sử. Những hy sinh mất mát và nỗi đau cứ dai dẳng, ám ảnh trong mỗi con người. Hy sinh mất mát là vậy nhưng những con người trung kiên vẫn vượt lên tất cả, ý thức công dân với quê hương đất nước được phát huy cao độ: Bạn tôi bảo không biết mình không còn sống bao nhiêu/ Nhưng mỗi ngày đi qua nhắc ta phải sống/ Hãy quên đi những đớn đau mất mát/ Theo trâu về chuồng, dẫn nước về mương. Chính điều đó giúp quân và dân ta đứng vững trước cơn “Bão trở” của một giai đoạn lịch sử đau thương và bi tráng: “Trước mười mấy con người là trăm họng súng kẻ thù/ Sau mười mấy con người là cả ngàn cặp mắt/ Mỗi người gánh trên vai một phần đất nước/ Hòn than ủ giữa vùng rừng cháy, tắt/ Cậy trông mười mấy con người”. Nhưng kẻ thù lúc đó là ai, họ chính là những bà con của mình, lầm đường lạc lối: “Nhưng rừng ơi! Người ơi!// Kẻ thù ở đâu?/ Kẻ thù là ai?/ Là Siểu, là Giang, là Sùng, Là Quý/ Là ông Thanh, ông Tráng, ông Sần... / Kẻ cùng ta đánh én, quay đu/ Cùng ta leo qua thời thơ dại…”. Chính vì vậy nhiệm vụ của toàn quân toàn dân lúc đó là: “- Hãy nhớ lời cấp trên đánh tan là chính/ Các mũi súng hãy tập trung vào kẻ cầm đầu.”. Tác giả hiểu rất rõ chủ trương đánh phỉ của ta lúc đó nên câu thơ đầy nhân ái bao dung:Mệnh lệnh phát ra làm nhẹ lòng người/ Súng như người thoáng ngập ngừng nháy mắt/ Thoáng rỗng lòng hang, thoáng rỗng hận thù! ”. Bài học rút ra từ xương máu ấy làm cho mỗi người hiểu thêm khi vòng tay nhân ái của nhân dân luôn rộng mở sẽ xóa được bao hận thù, bài học năm xưa mà như lời nhắn nhủ tới muôn đời: Chúng tôi hiểu! Thêm lần cay đắng hiểu/ Nhân dân xòe tay thì còn cây còn đất/ Nhân dân quay lưng không chỗ đặt bàn thờ/ Phép cho người không phép cho chó dữ/ Khôn lo khéo giữ mới thành người/ Người ngã bè phải bám bè như cỏ cây bám đất/ Mới mong qua được mưa gió thác ghềnh”. Cũng chính vì vậy mà khi trải qua giông tố không chỉ những người lầm lạc được sống trong vòng tay độ lượng bao dung mà mọi người đều thấm hơn cái giá của chính sách đoàn kết dân tộc: “Sông núi xòe tay/ Chúng tôi xòe tay/ Trận mạc đẩy con người xa nhau/ Trận mạc kéo con người gần lại/ Đớn đau/ Tủi hờn/ Mừng vui/ Hy vọng/ Quấn lấy nhau trong thác đổ, lũ tràn!”. Cũng chính vì vậy mà hòa bình đẹp hơn bất cứ lúc nào, mỗi người hiểu hơn bao giờ hết những gì mình có.

Những người am hiểu cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược và các thế lực phản động ở Lào Cai những năm 1945-1959 và am hiểu phong tục tập quán của người dân vùng cao Lào Cai sẽ càng hiểu hơn giá trị lịch sử, giá trị văn học và giá trị nhân bản trong trường ca “Bão trở” của Đoàn Hữu Nam. Những năm đó quân và dân các dân tộc Lào Cai đã tổ chức 5 chiến dịch tiễu phỉ lớn, tổ chức và tham gia gần một ngàn trận đánh phục kích, tập kích, làm tan rã 8.788 tên phỉ, thu hàng ngàn khẩu súng các loại và hàng trăm tấn đạn dược, trang thiết bị, đập tan hoàn toàn âm mưu gây phỉ trong chiến lược “dùng người Việt trị người Việt” của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ can thiệp, góp phần cùng cách mạng cả nước kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. “Bão trở” thống nhất được nội dung và nghệ thuật, kế thừa đặc trưng những truyện thơ truyền thống đặc thù của văn hóa các dân tộc và phong cách của người vùng cao. Trường ca được thể hiện với những phong cách khác nhau, những thể thơ khác nhau, có nhiều khoảng lặng làm cho người đọc phải suy tư, chiêm nghiệm không nhàm chán. Những sáng tạo nghệ thuật ấy làm cho trường ca không khô cứng, để lại trong lòng người đọc những ấn tượng khó phai. Thời gian xảy ra “Bão trở” còn có thể có đo đếm được nhưng những giá trị lịch sử và nhân văn sâu sắc tác phẩm để lại thật không nhỏ chút nào. “Bão trở” không chỉ góp phần tái hiện lại một giai đoạn lịch sử cụ thể mà hơn thế còn rút ra bài học sâu sắc.

Trần Vân Hạc

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại