Đổi mới tư duy văn học như là luân lý của chủ thể sáng tạo
22-06-2015 11:21


 

Văn học Việt Nam đương đại tham gia vào quá trình đổi mới và hội nhập bằng chính những vận động nội tại của mình. Một trong những biểu hiện trọng yếu nhất của sự vận động tự thân ấy chính là đổi mới tư duy. Tư duy văn học Việt Nam sau đổi mới bắt nguồn từ sự đổi mới quan niệm về thực tại, cách thức chiếm lĩnh thực tại và cách thức biểu hiện quan niệm ấy. Trong tất cả các thể loại của văn học, có thể nhận ra từ sau giải phóng cho đến thời điểm những khẩu hiệu, quyết nghị có tính thiết chế được rộng rãi tuyên bố, đã có sự chuyển động rất đáng ghi nhận, nói lên quy luật vận động của sáng tạo nghệ thuật hướng tới những phẩm tính cốt yếu của loại hình.

Xem xét văn học như một sản phẩm văn hóa, đặt trong tương quan với các loại hình nghệ thuật khác trong sân chơi văn hóa, từ góc độ tư duy, Lã Nguyên cho rằng: “Tư duy văn học vừa là kiểu tư duy của vô thức tập thể (giống như trong huyền thoại, tôn giáo, văn hoá dân gian, hoặc âm nhạc và nghệ thuật sân khấu trong hoạt động chuyên nghiệp), của tình cảm mãnh liệt và những xúc động trực tiếp trước hiện thực (giống như trong các hoạt động văn nghệ - thẩm mĩ), lại vừa là kiểu tư duy đầy thông tuệ của lí trí con người (giống như trong các công trình nghiên cứu khoa học). Chính kiểu tư duy trác tuyệt, độc đáo ấy đã mở đường cho văn học tiến vào chiếm giữ vị trí trung tâm của đời sống văn hoá - xã hội[1]. Tư duy văn học là một quá trình, là những diễn biến trong trí tưởng của nhà văn để sáng tạo nên văn bản ngôn từ có tính nghệ thuật. Điều đó nói lên cái cách mà nhà văn đã tái tạo, sáng tạo hiện thực trong tác phẩm bằng cảm quan cá nhân, dân tộc, thời đại... Đó là một thế giới mang tính quan niệm, một thế giới của tưởng tượng nhưng không thể xa rời những vấn đề của đời sống con người, của ý thức, tư tưởng trong thời đại mà anh ta thuộc về, đồng thời liên đới không ít đến quá khứ và những dự cảm của tương lai. Nhà văn trong hoàn cảnh sống mới đã thể hiện trước hết là cảm quan của họ trước thực tại, trước cuộc đời, số phận con người. Có một thời dài, văn học của chúng ta do nhiệm vụ dân tộc đã phải tạm gác lại những vấn đề thuộc về cá nhân, đời tư và những vận động sâu kín của cá nhân con người. Chính vì thế, sự dồn nén và bung toả cảm hứng thế sự đời tư trong văn học sau ngày đất nước được thống nhất, đặc biệt là sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI(1986) là điều hoàn toàn hợp quy luật. Nguyễn Minh Châu trong chiến tranh là một cây bút đầy nhiệt huyết. Ngòi bút của ông đã đi từ Cửa sông qua Những vùng trời khác nhau theo Dấu chân người lính hăm hở tiến ra mặt trận. Tuy nhiên, ở những sáng tác của Nguyễn Minh Châu trong kháng chiến ta vẫn cảm nhận được một hơi thở đầy riêng tư sẽ được biểu hiện rất sớm sau ngày đất nước thống nhất. Nguyễn Minh Châu trở thành "người mở đường tài hoa và tinh anh" cho văn học Việt Nam giai đoạn sau giải phóng. Ông đã sớm nhận ra cái hoang vu Cỏ lau của đời người, nhìn lại Bức tranh một thời đã mải mê tô vẽ, tình nguyện làm hành khách đầu tiên "trên chuyến tàu tốc hành" dù phải nếm hương vị Mùa trái cóc ở Miền Nam, Một lần đối chứng để trở về với sự biện chứng của văn học và sự biện chứng của tâm hồn. Truyện ngắn Bức tranh là một thông điệp đầy nhức nhối về vấn đề nhân cách con người. Tác giả đã chú ý vào quá trình tự thức nhận của nhân vật hoạ sĩ, đó là "lời tự thú" của nhân vật sau một quá trình "tự tìm hiểu mình", "tự phán xét mình". Truyện ngắn Bức tranh đã đi vào bề sâu của tâm hồn nhân vật, nhận ra thói đạo đức giả như một căn bệnh trầm kha làm trì trệ bước phát triển và nỗ lực cải tổ, đổi mới của xã hội. Thói đạo đức giả được che đậy bằng những lí do, mục đích tư biện, nó tự bào chữa cho mình để có quyền quên đi tội lỗi, quên đi nỗi đau của đồng loại. Nhận ra chính mình đồng thời nhận diện được tha nhân làm cho tư duy của nhà văn sau đổi mới có những bước đi, những khám phá gần gũi hơn với con người thế sự, đời tư. Lã Nguyên đã tổng kết những vận động ấy để đúc kết nên sứ mệnh của văn học Việt Nam đương đại từ chủ thể sáng tạo: “Người cầm bút viết văn, làm thơ không phải chỉ là để giãi bày tình cảm, tư tưởng, mà còn là để đối thoại, tranh biện. Bằng sáng tác của mình, nhà văn trực tiếp phát biểu chính kiến, góp phần giải quyết những vấn đề thời sự nóng bỏng của thời đại[2]. Tư duy văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới xuất hiện sự phản tư, phản tỉnh, xuất hiện những chủ đề, đề tài, cảm hứng mới. Hiện thực như là cách hiểu (cứng nhắc) về thế giới mà nhà văn sinh tồn, thụ hưởng, kiến tạo... được mở rộng với sự trỗi dậy của những vùng tối (vô thức, tiềm thức), đã làm hiện hình tính toàn nguyên không thể phủ nhận, che giấu. Mỗi thời đại, mỗi giai đoạn lịch sử đều có những câu chuyện, những tự sự riêng của nó. Và, sau đổi mới, “vấn đề thời sự nóng bỏng của thời đại” không còn là chiến tranh, là giải phóng đất nước, mà là số phận con người trong sự sinh tồn thiết thân nhất. Văn học Việt Nam đương đại là diễn ngôn của con người đương đại, con người thế tục chính là một đối thoại với những diễn ngôn đã có để tìm kiếm chân lý cho những hiện hữu mới trong không gian đương đại. Sự đối thoại ấy diễn ra rộng khắp trên tất cả các phương diện của văn học Việt Nam đương đại, mà khởi đầu là tư duy văn học. Từ “một cái nhìn lướt” về văn học Việt Nam đương đại, khởi đi từ những sáng tác của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp (Tướng về hưu, Không có vua, Những bài học nông thôn...), Phạm Thị Hoài (Thiên sứ, Man Nương...), Võ Thị Hảo (Giàn thiêu), Nguyễn Mạnh Tuấn (Đứng trước biển, Cù lao tràm), Phùng Gia Lộc (Cái đêm hôm ấy đêm gì?), Dương Hướng (Bến không chồng, Dưới chín tầng trời), Nguyễn Khắc Trường (Mảnh đất lắm người nhiều ma), Nguyễn Duy (Nhìn từ xa… Tổ quốc, Đánh thức tiềm lực...), Dư Thị Hoàn (Tan vỡ), Đoàn Thị Lam Luyến (Lỡ một thì con gái), Nguyễn Trọng Tạo (Tản mạn thời tôi sống), Nguyễn Quang Thiều (Những người đàn bà gánh nước sông, Mùa hoa cải bên sông, Kẻ ám sát cánh đồng...), Nguyễn Khắc Phục (Biết đâu địa ngục thiên đường), Y Ban (I am đàn bà), Dạ Ngân (Gia đình bé mọn), Nguyễn Bình Phương (Vào cõi, Những đứa trẻ chết già, Trí nhớ suy tàn, Thoạt kỳ thủy, Ngồi...), Hồ Anh Thái (Cõi người rung chuông tận thế), Nguyễn Xuân Khánh (Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn, Đội gạo lên chùa), Nguyễn Việt Hà (Cơ hội của Chúa), Nguyễn Ngọc Tư (Cánh đồng bất tận), Vi Thùy Linh (Linh, Khát, Đồng tử, Vili in love, Phim đôi-tình tự chậm, Vili & Paris...), Văn Cầm Hải (Người đi chăn sóng biển), Phan Huyền Thư (Rỗng ngực, Nằm nghiêng), Đỗ Hoàng Diệu (Bóng đè, Dòng sông hủi, Vu quy...), Hoàng Minh Tường (Gia phả của đất, Thời của thánh thần), Đào Thắng (Dòng sông Mía), Đỗ Minh Tuấn (Thần thánh và bươm bướm), Tạ Duy Anh (Lão Khổ), Trịnh Thanh Phong (Ma làng)... Một điều cơ bản có thể nhận ra chính là những sáng tác này đã từng bước thoát ra khỏi kiểu tư duy văn học thời kỳ chiến tranh, tiền đổi mới, kiến tạo những cấu trúc nghệ thuật mới, cho phép triển khai được cảm quan nghệ thuật, thời đại, lịch sử và văn hóa của nhà văn. Về bản chất, trong văn học nói riêng và đời sống sau đổi mới nói chung, đã diễn ra một quá trình đấu tranh giữa các hệ giá trị, cách tư duy về giá trị. Từ kiểu tư duy sáng tạo đến sản phẩm văn học, văn học Việt Nam đương đại đã cho thấy sứ mệnh của mình trong việc kiến tạo chân dung con người mới đương đại. Trách nhiệm của nhà văn, của sáng tạo nghệ thuật ngôn từ là rất lớn, phải được xem là một phạm trù của luân lý xã hội, luân lý mỹ học. Lã Nguyên cho rằng: “qua sáng tác, nhà văn tham gia trực tiếp vào các cuộc đấu tranh tư tưởng, hoặc những cuộc tranh luận về đủ các loại chủ đề, như triết học, tôn giáo, đạo đức, chính trị - xã hội, về cả những vấn đề về mĩ học và văn học nghệ thuật… Bằng cách ấy, văn học không chỉ phản ánh hiện thực đời sống, mà còn góp phần cải biến thế giới. Nó tác động tích cực tới thế giới quan của người đọc, góp phần hình thành ở họ những tín niệm đạo đức, thị hiếu thẩm mĩ, quan điểm tôn giáo, chính trị và cả những tri thức triết học, khoa học… Nó thường xuyên đấu tranh chống lại cái cũ, mở đường cho cái mới nẩy nở, phát triển. Có nhiều thời điểm, văn học trở thành diễn đàn tự do, trước hết là của tự do tư tưởng, của lẽ phải và sự công bằng, của khát vọng dân chủ và lí tưởng nhân bản bất diệt của con người[3]. Khi xét văn học như là trung tâm của đời sống xã hội (ở một giai đoạn lịch sử), Lã Nguyên cũng lưu ý: “Ở nhiều thời điểm lịch sử, “trường quyền uy” của tiếng nói văn học gần như lấn lướt, làm lu mờ quyền uy của mọi lời nói khác, kể cả tôn giáo, khoa học, chính trị, pháp quyền… Cứ nhớ lại thái độ của các tầng lớp nhân dân đối với tờ báo Văn nghệ và không khí của văn học Việt Nam thời “đổi mới” (1986 - 1991), ta sẽ hiểu ngay, nghệ thuật ngôn từ có sức nặng như thế nào trong đời sống văn hoá - xã hội. Ở những thời điểm như thế, “văn học quyển” là linh hồn của “văn hoá quyển[4]. Dĩ nhiên, trong một tiểu luận dài của mình, Lã Nguyên bắt đầu chú ý đến sự dịch chuyển vị trí của văn học trong quyển văn hóa mà ông gọi là “sân chơi văn hóa” - Văn học không còn ở vị trí trung tâm khi các loại hình nghệ thuật khác trỗi dậy. Điều đó càng đặt ra suy nghĩ về tác động của văn học đương đại đối với con người, thời đại, lịch sử và văn hóa. Nhấn mạnh đến tác động của thơ ca đối với nhận thức của con người thời đổi mới, hội nhập, xem xét đổi mới như một không gian văn hóa của thơ, của con người trong tư cách cá nhân, cái tôi, trong những tương giao chằng chịt với xã hội, trong nỗi cô đơn tận cùng của bản thể, Đài tiếng nói Việt Nam trong một chương trình văn nghệ với chủ đề: Sứ mệnh lịch sử của văn học Việt Nam hiện đại cho rằng: “Không phải là sự ngợi ca, mà sự phản biện, với toàn bộ trật tự của đời sống hiện tồn. Sự phản biện này buộc người ta phải đặt câu hỏi về sự tồn tại của toàn bộ thế giới quanh mình, về chính mình… Những gì đã, đang diễn ra với văn học Việt Nam sau gần 30 năm đổi mới đang bóc trần nỗi cô đơn như một thứ định mệnh và cũng là yếu tính của nhà văn hiện đại… Văn học trở thành nơi lưu giữ của nhân tính và dẫn dắt người ta đến ánh sáng của niềm tin tươi đẹp. Đó phải chăng là sứ mệnh lớn lao nhất của văn học Việt Nam đương đại”[5]. Văn học Việt Nam đương đại đã thể hiện tinh thần, thị hiếu, quan niệm về nghệ thuật và giá trị của thời đổi mới, con người đổi mới. Nhưng, cũng chính từ văn học, công chúng nhận ra rõ rệt hơn, cụ thể hơn những chuyển động của đời sống, không chỉ ở thì hiện tại mà còn nhiều sắc thái có tính dự báo về hành trình phát triển, vận động của văn học, của tinh thần thời đại. Đổi mới tư duy văn học, nhìn thẳng vào sự thật chính là phát hiện ra sự thật toàn nguyên, sự thật như nó đang diễn ra, đang vây bọc thế giới con người.

Một vấn đề nữa có thể nhận ra từ văn học đương đại trong sứ mệnh làm giàu đời sống tinh thần, văn hóa của con người thời kỳ đổi mới và hội nhập chính là các sáng tác văn học không phải là một văn bản tự thân khép kín, mà nó luôn mở ra để tiếp nhận bản sắc văn hóa, thể hiện bản sắc văn hóa, đồng thời hướng đến sự đối thoại rộng lớn với lịch sử, với hiện tại và tương lai. Tác phẩm văn học là một liên văn bản trong không gian liên văn hóa, liên chủ thể vốn đang dần trở thành xu hướng phổ quát của thời hội nhập. Để làm được điều đó, nhà văn phải là nhà tư tưởng, nhà văn hóa, nhà xã hội học, dân tộc học... Nghĩa là, chủ thể sáng tạo, chủ thể tiếp nhận cần phải có một thứ “vốn” để thích ứng với thời cuộc, đồng thời làm hành trang cho hội nhập và phát triển. Nguyễn Hòa gọi đó là nội lực của sự sáng tạo và hội nhập: “ở thời hội nhập, nhà văn không chỉ đọc và học hỏi, nhà văn còn phải sáng tạo, sáng tạo cho cộng đồng của mình và rộng hơn là cho cộng đồng nhân loại. Để làm được điều đó, trước hết nhà văn cần tới một nội lực văn hoá mạnh mẽ, phong phú để tạo dựng nên nền tảng và động lực cho hành vi sáng tạo. Hơn thế nữa, khi đứng trước rất nhiều khả năng để lựa chọn, nhà văn cần có bản lĩnh để lựa chọn phương án sáng tạo, chiến lược phát ngôn thích hợp trên các phương diện: cá nhân, cộng đồng và nhân loại. Bởi trước khi hướng ra nhân loại, nhà văn phải dựa trên các giá trị cộng đồng, vì không có gì khác, chính các giá trị cộng đồng đã làm nên tên tuổi và sự nghiệp của nhà văn. Song, khi tự giác hội nhập với văn học thế giới cần lưu ý rằng, việc nắm bắt đặc điểm của mối tương tác giữa văn hoá cộng đồng với văn hoá nhân loại, nắm bắt đặc điểm riêng của sự nảy sinh các xu hướng, trào lưu, lý thuyết văn học là một trong các yêu cầu đầu tiên không thể bỏ qua[6].

Không thể sáng tạo mà cắt đứt hoàn toàn với truyền thống văn học, văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam trong thời hội nhập. Đó là con đường phát triển bền vững của sáng tạo, nếu không muốn nói rằng đó là sứ mệnh của nhà văn. Cái mới, sự cách tân không phải là sự đoạn tuyệt. Bởi thế, tư duy văn học, một mặt cần phải đổi mới, nhưng mặt khác cũng cần phải cố kết một cách tự nhiên, bền chặt vào truyền thống, bản sắc của văn hóa Việt Nam. Ở thời mà “cái khác” nổi lên như một đặc trưng mỹ học tiêu biểu (cả trong Triết học và Mỹ học) thì việc nhận diện truyền thống, nhận diện cái sở thuộc có tính “vô thức tập thể” cũng quan trọng như việc chúng ta ý thức rằng mình thuộc về nơi nào đó, điều gì đó để kiến tạo ý nghĩa hiện hữu và giá trị hiện tồn. Trong ý nghĩa đó, sáng tạo, cách tân, đổi mới tư duy văn học phải được xem là trách nhiệm, là luân lý xã hội, luân lý mỹ học của nhà văn.

Nguyễn Thanh Tâm



[1] Lã Nguyên, Vị trí của văn học trên sân chơi văn hóa trong tiến trình lịch sử, http://lythuyetvanhoc.wordpress.com.

[2] Lã Nguyên, Vị trí của văn học trên sân chơi văn hóa trong tiến trình lịch sử, http://lythuyetvanhoc.wordpress.com

[3] Lã Nguyên, Vị trí của văn học trên sân chơi văn hóa trong tiến trình lịch sử, http://lythuyetvanhoc.wordpress.com

[4] Lã Nguyên, bđd.

[5] Đài tiếng nói Việt Nam, “Sứ mệnh lịch sử của văn học Việt Nam hiện đại”, http://radiovietnam.vn, thứ Tư, 03/09/2014, 06:40 am. 

[6] Nguyễn Hòa, Hội nhập, văn học và nội lực văn hóa, Tham luận tại Hội thảo Văn học với xu thế hội nhập - Hội nhà văn Việt Nam tổ chức tại Sầm Sơn, Thanh Hóa, ngày 17,18 -12-2008, dẫn lại từ http://nhavan.vn, Thứ sáu, 19.12.2008, 11:48 pm (GMT+7).

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại