Hình ảnh các anh hùng liệt sĩ trong thơ Nam Định
21-07-2015 03:16


 

Đề tài người lính và chiến tranh cách mạng chiếm một vị trí quan trọng trong sáng tác của các nhà thơ nói chung và của các tác giả Nam Định nói riêng. Trong đó, mỗi nhà thơ đều dành những trang viết trang trọng, xúc động về những Anh hùng Liệt sỹ - những đồng đội đã một thời cùng đạn bom khói lửa trong suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Dù số lượng nhiều hay ít và mức độ đậm, nhạt khác nhau nhưng mỗi nhà thơ Nam Định đều đã góp phần vào việc tạc lên bức tượng người anh hùng liệt sỹ sừng sững, trường tồn bằng những vần thơ trang trọng.

Cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ nền độc lập của dân tộc ta là cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, cả nước lên đường. Chính vì vậy, những hy sinh, mất mát từ cuộc chiến này đã không trừ một người nào. Trong thi phẩm nổi tiếng Núi Đôi, nhà thơ Vũ Cao đã ca ngợi sự hy sinh anh dũng của một nữ du kích bằng những câu thơ giản dị mà ám ảnh, xúc động, đau thương nhưng không bi luỵ:

Anh ngước nhìn lên hai dốc núi

Hàng thông, bờ cỏ, con đường quen

Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói

Núi vẫn đôi mà anh mất em…

 

…Anh đi bộ đội sao trên mũ

Mãi mãi là sao sáng dẫn đường

Em sẽ là hoa trên đỉnh núi

Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm

Trong câu chuyện tình này, cái tôi cá nhân đã hoà cùng cái ta dân tộc, tình yêu đôi lứa gắn liền với tình yêu quê hương, đất nước, gắn liền với lý tưởng đấu tranh cao đẹp. Hình ảnh người nữ du kích sống trung thành, chết thuỷ chung mãi mãi là cánh hoa thơm trên đỉnh núi, là cánh hoa thơm trong lòng người. Người người chiến đấu vì sự hy sinh của những cánh hoa thơm ấy. Và trong bất kỳ chiến thắng nào cũng đều có sự góp công to lớn của những người đã ngã xuống:

Anh vui giấc ngủ ngàn năm

Thương anh, ngày tháng hờn căm chất chồng

Anh nằm dưới đó nghe không?

Hôm nay bom đạn nổ tung Sài thành

Ngày vui, T ổ quốc nhớ anh

Chiến công này có công anh góp phần

(Mồ liệt sỹ không tên - Lê Đức Thọ)

Trong những năm chống Mĩ, biết bao chàng trai Nam Định đã lên đường, hoà cùng vào đoàn quân điệp điệp trùng trùng của cả nước hướng về miền Nam ruột thịt. Một thế hệ luôn sống trong tâm trạng phấn khởi, háo hức bởi được cầm súng ra trận, bởi được góp phần mình vào sự nghiệp của dân tộc. Phần lớn họ đều có tuổi đời rất trẻ, tâm hồn lồng lộng gió thời đại. Và khi ngã vào lòng đất, nhiều người vẫn chưa một lần yêu:

Thế hệ chúng tôi đi như gió thổi

Quân phục xanh đồng sắc với chân trời

Chưa kịp yêu một người con gái

Lúc ngã vào lòng đất vẫn con trai

(Đất nước hình tia chớp - Trần Mạnh Hảo)

Người lớp trước ngã xuống thì người lớp sau tiếp bước xông lên. Họ nối nhau thành đội hình dài vô tận, dài từ Bắc vào Nam, dài như… cuộc kháng chiến. Đã có rất nhiều người con của quê hương mãi mãi nằm lại trên các chiến trường. Mất mát và đau thương không thể nào kể xiết!

Nếu đồng đội của tôi sống lại

Sư đoàn tôi sẽ thành mấy Sư đoàn…

(Trường ca Sư Đoàn - Nguyễn Đức Mậu)

Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu có nhiều tác phẩm hay viết về sự hy sinh của những người lính như: Nấm mộ và cây trầm, Mùa hoa đỏ, Cánh rừng nhiều đom đóm bay… Trong bài thơ Người gỡ mìn, tác giả kể về người lính công binh chuyên làm nhiệm vụ gỡ mìn, tháo gỡ cái chết ra khỏi thân hình đất nước. Mặc dù chiến tranh đã chấm dứt nhưng tội ác của giặc vẫn lẩn khuất đâu đây và nỗi đau vẫn rình rập khắp nơi. Người lính đã nhận về mình cái chết để đem lại sự sống, để đất đai lại màu xanh cây lá và cho người đến xây nhà dựng cửa. Sự hy sinh ấy thật cao cả và đáng khâm phục biết bao:

… Nhưng trái mìn nằm kia

Cướp của anh tất cả

Thì còn lại đất đai muôn thuở

Nơi anh nằm thời gian xanh lá cây

Nơi anh nằm có ngôi nhà cho người đến ở

Hai chữ bãi mìn bàn tay anh xoá

Cái chết cuối cùng phải tháo kíp nơi đây…

Còn nhà thơ Trần Mạnh Thường thì “nói hộ” nỗi niềm của những liệt sỹ Côn Đảo năm xưa qua trường ca Chào anh em ở lại:

Dù vạn loài hoa phủ trên tấm mồ liệt sỹ vô danh

Các anh nằm đây với nỗi buồn con tàu mắc cạn

Cát nóng bỏng giấc mơ vượt biển

Những trái tim khát khao hiến dâng tới nhịp cuối cùng…

Những chiến sĩ Cộng sản trung kiên đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Dù thân xác các anh phải “mắc cạn” nằm lại nhưng tâm hồn và ý chí chiến đấu vẫn khát khao “vượt biển” trở về đấu tranh, vẫn dõi theo bước đường cách mạng của toàn dân tộc.

Sống vì quê hương và chết vì quê hương, dù ngã xuống ở vị trí nào chăng nữa thì những liệt sỹ đều để lại niềm nhớ thương vô hạn cho mọi người, đặc biệt là những người mẹ, người vợ nơi hậu phương. Đó là điểm tựa cho những người lính và hình ảnh người mẹ già, người vợ trẻ cứ hiện lên trong tâm trí người lính trước lúc hy sinh. Người ở hậu phương đảm nhận làm thay phần việc của người đã hy sinh nhưng không thể nào lấp được khoảng trống khi vắng các anh:

Người cõng mẹ từ bệnh viện về không phải con trai mẹ mà là con dâu mẹ

Người bón từng thìa cơm cho mẹ không phải con gái mẹ mà là con dâu mẹ…

Con dâu của mẹ một nách hai con

Anh trên bàn thờ nhìn xuống vai chị gầy, ngân ngấn mắt

(Con dâu của mẹ - Trần Quốc Thực)

Chiến tranh đã đi qua mấy mươi năm nhưng trên khắp đất nước này còn bao gia đình chưa tìm thấy phần mộ của người thân. Nhà thơ Phạm Như Hà Khấn em trai của mình mà cũng là khấn cho bao liệt sỹ của bao gia đình khác. Nỗi đau này không chỉ của một nhà mà là nỗi đau chung của cả dân tộc:

Chiến trường xưa mấy mươi năm

Mênh mông giờ biết em nằm ở đâu

Cũng đành lần nữa bấy lâu

Mẹ cha khuất núi mối sầu mang theo…

Vượt qua thời gian, vượt lên những buồn đau, tình yêu của những người lính đã hy sinh vẫn được nâng niu, gìn giữ; vẫn tinh khiết, trắng trong như thuở ban đầu:

Bông hồng trắng mọc lên bên cửa sổ

Chị chẳng đếm những mùa cây thay lá

Có ngôi sao trên cánh rừng phương Nam

Lặng lẽ sáng

Một chàng trai trong khung kính xa vời…

(Bông hồng trắng - Phạm Trọng Thanh)

Có nhiều bài thơ viết về các anh hùng liệt sỹ của các thế hệ nhà thơ Nam Định. Âm hưởng chung của các bài thơ đó là buồn lặng nhưng không bi lụy. Nhiều bài tạo được không khí trầm hùng, lắng sâu, tha thiết. Đọc lại những vần thơ trên, chúng ta càng thấy được sự hy sinh, mất mát của thế hệ cha anh thật to lớn, đồng thời khắc ghi ân nghĩa sâu nặng với những người đã khuất và giáo dục, phát huy truyền thống đạo lý “uống nước nhớ nguồn” cho thế hệ hôm nay và mai sau.

Trần Văn Lợi

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại