Mầm đắng - Về một sự tha hóa mới
06-05-2015 11:46

Văn học nữ thời gian gần đây đã chứng kiến sự xuất hiện ấn tượng của một số cây viết trẻ mà giọng văn của họ có phần mạnh mẽ hơn, trực diện hơn khi đề cập những vấn đề gai góc của cuộc sống. Tuy nhiên, tiếng nói nữ quyền của văn nữ không chỉ là sự lên án, tố cáo mà sâu thẳm đằng sau những câu chữ có phần cay đắng của thân phận bị vùi dập, vẫn chất chứa một sự vị tha khi nhìn thấy phương diện nạn nhân ở chính những tác nhân gây nên bi kịch cho họ. “Mầm đắng” của nhà văn nữ Tống Ngọc Hân là một điển hình như vậy.

 

Thập nữ viết không

Trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, từ Tự lực văn đoàn cho đến nay, đã có khá nhiều tác phẩm lên án cái tư tưởng và kiểu cấu trúc xã hội truyền thống dựa trên nền tảng trọng nam khinh nữ. Sau gần một thế kỷ, đề tài này dường như vẫn còn phổ biến và là lựa chọn của khá nhiều văn nữ. Điều đó, khá mỉa mai, cho thấy cho dù xã hội đã thay đổi rất nhiều, nhưng vấn đề bình quyền cho phụ nữ vẫn dường như chưa tiến bộ bao nhiêu, khi mà chúng ta đã mở cửa, tiếp nhận những phương diện văn minh của nhân loại.

Tư tưởng trọng nam khinh nữ thể hiện ngay ở những câu chữ đầu tiên của truyện ngắn Mầm đắng. Từ lựa chọn giáo dục cho con cái trong gia đình: ‘Bốn anh em trai đều được đi học gần hết cấp hai. Còn năm chị em gái mà tôi là út thì không được đi học ngày nào”; cho đến quan điểm về vị trí thứ yếu của người nữ, cũng như nỗi lo sợ ngấm ngầm mà dai dẳng về nguồn cơn của bất hạnh nơi những đứa con gái: “Với đàn bà con gái trong nhà tôi, biết chữ là một cái tội”.

Trong lời kể của nhân vật ‘tôi’, ngăn chặn quyền được học tập của con gái đã trở thành “cái chính sách ngu hóa” của người cầm cân nảy mực trong gia đình - người cha. “Các chị im thin thít nghe lời, không đứa nào dám cãi. Có tí chữ vào là hay cãi lắm… Bố càng sợ tôi biết chữ”.

Nhân vật chính của câu chuyện sinh ra và lớn lên trong cái không khí ngột ngạt ấy. Cái nếp nghĩ lâu dần tạo nên những thứ chân lý một cách nghịch lý. Nó xảy ra không chỉ với những gia đình giàu có, danh gia vọng tộc, mà ngay cả với những hộ lao động nghèo, bình dân như câu chuyện trong Mầm đắng.

Ngoài sự khinh miệt của người cha, ngay cả người mẹ cũng góp phần vào sự thù ghét đối với con gái trong nhà. Đây cũng là điều đặc biệt trong văn hóa trọng nam khinh nữ: những người phụ nữ dù khi còn trẻ có thể là nạn nhân của tư tưởng độc tôn nam giới, khi lớn tuổi, làm mẹ, làm bà, hay ‘nội tướng’ trong những gia đình quyền quý, họ, một cách tự nguyện như là bản năng, trở thành nhân tố đắc lực duy trì và củng cố cái gọi là trật tự, nền nếp, gia phong trên cơ sở tư tưởng ấy.

Người mẹ chưa bao giờ tỏ ra là đồng minh của cô. “Mẹ chửi: Kem đánh răng mày nuốt đi hay sao mà nhanh hết thế. Xà phòng cũng tốn, đái ra quần hay sao mà ngày nào cũng thay giặt”. Dường như ở lâu trong cái sự khinh miệt về vị thế nữ giới, người mẹ cũng trở nên căm ghét chính cái thân xác đàn bà của mình và trút giận lên đầu đứa con gái một cách vô thức: “Hành kinh thì mang ra suối mà giặt chứ, ai cho mày giặt ở lần nước, đồ mất nết”.

 

Tư tưởng nổi loạn

Trước những trói buộc của cái nghèo (“cái quần, phải bán năm sọt măng đắng mới mua được”), và sự ức chế của thói gia trưởng, có những cô gái trở nên tuân thủ, cam chịu và chấp nhận cả sự trừng phạt như người chị liền kề của nhân vật tôi (mắc vào tội chửa hoang) - đó là một bi kịch dễ nhận thấy. Nhưng với nhân vật chính, điều đáng nói, và có thể là cái bi kịch lớn lao hơn đang chờ đón - đó là cô lại là người có ý thức về thân phận, không cam chịu và ngấm ngầm phản kháng.

Nhìn cha, cô ngán ngẩm cho cái hình ảnh đàn ông bệ rạc và cay nghiệt: “Chồng tôi, rồi cũng sẽ khắt khe, khó tính giống bố và khi gần đất xa trời thì sẽ giống ông nội, suốt ngày chửi nhảm”.

Ở mẹ và các chị, cái mà cô nhìn thấy cũng không có gì sáng sủa hơn: “Tôi sẽ như chị dâu, đẻ hai đứa con theo quy định của nhà nước. Rồi tôi sẽ như mẹ. Từ nhà lớn xuống bếp, từ bếp ra đồng... quanh quẩn, quẩn quanh.”

Rồi tự hỏi bản thân: “Có cách nào để thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn ấy không”?

Vốn là một cô gái thông minh, nhanh nhẹn và ham hiểu biết, cô gái biết tự tìm đến sách vở, lén lút “nhét vào bụng, mang vào rừng lúc chăn trâu để đánh vần và tự học”. Và cô bắt đầu nhìn ngó ra ngoài, tìm cách thoát khỏi phạm vi tù túng của gia đình, nơi chưa từng là tổ ấm trong suốt những năm tuổi thơ, thoát khỏi tình trạng bị cô lập của bản thân vì không bạn bè, không thầy cô, còn mối quan hệ anh chị em ruột thịt thì vô cùng mờ nhạt, hầu như không được nhắc đến.

 

‘Bên kia sông là tự do’

“Đứng bên ngọn trám nhà tôi là nhìn thấy tự do. Nơi ấy nhà cao chọc trời, điện đóm sáng trưng, hàng hóa ngồn ngộn”. Đó là hình ảnh đầy cám dỗ của xã hội vật chất hiện đại trong mắt cô bé 16 tuổi, nó chỉ cách cuộc sống tù túng nơi bản nghèo người dân tộc Giáy của cô một con sông.

Khác với nhiều tác phẩm trước đó cùng một chủ đề tư tưởng về bình đẳng giới thường bắt đầu câu chguyện từ bi kịch của xã hội đi vào bi kịch gia đình, với Mầm Đắng, Tống Ngọc Hân đi theo hướng ngược lại nhưng làm một vòng tròn bủa vây của số phận từ gia đình đến xã hội và trở lại với gia đình.

Cuộc sống hiện đại đã tiến về đến gần bản nghèo vùng cao. Ở đó có những cơ hội, nhưng cũng đầy rẫy những rủi ro, mà rủi ro lớn nhất là nó có thể nuốt chửng những cá thể bước chân ra từ một môi trường còn nặng căn truyền thống như gia đình nhân vật ‘tôi’.

Tác giả đã dùng thủ pháp tương phản để làm nổi bật sự đối nghịch giữa một bên là đô thị hóa, kinh tế thị trường với những quy luật khắc nghiệt, duy lý của nó, một bên là bản nghèo sinh sống theo lối tự cung tự cấp (trồng măng đắng đem đổi lấy hàng hóa).

Cuộc vượt thoát qua bên kia sông của nhân vật chính không mang lại cho cô sự tự do như mơ ước. Mặc dù, cũng gặp được những người tốt, cũng có chút thay đổi, được đi học, thậm chí học ngoại ngữ để trở thành hướng dẫn viên du lịch, nhưng thân phận mỏng manh của cô gái, dù có khát khao tự do và “ương ngạnh” thế nào, cũng không chịu nổi những quăng quật của cuộc sống và rốt cục phải “quay về vì bị xã hội ruồng bỏ”.

 

Phương diện nạn nhân của tác nhân

Mầm Đắng có thể gặp lại mô-típ về sự đổi thay xã hội, cụ thể là đô thị hóa, đã phá vỡ cái trật tự truyền thống của tổ chức làng xã nông nghiệp, giống như Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư. Trong tác phẩm của nữ nhà văn Nam Bộ, ta bắt gặp số phận của những ‘bàn chân lấm lem bùn đất’ bị bứng khỏi ruộng đồng, những cánh đồng bất tận không còn nữa, mà chỉ còn những bàn chân chơ vơ nơi thị thành. Trong cơn lũ của sự thay đổi, có những số phận không kịp thích ứng, bị tha hóa và trở nên tàn bạo với chính đồng loại của mình.

Nhưng nếu ở Cánh đồng bất tận, bi kịch cuối chuyện xảy đến khi người cha không đủ sức che chắn cho con gái mình trước những kẻ hiếp dâm cùng làng, thì ở Mầm đắng, thủ phạm cho sự bất hạnh cùng cực của nhân vật nữ, đau xót hơn, lại chính là cha ruột.

Sự nghịch lý tưởng chừng không thể hiểu nổi khi mà bi kịch mất một lúc ba bốn người thân sau trận sạt lở vừa mới trút xuống gia đình khốn khổ; khi mà bản thân ông bố cũng là một kẻ bất hạnh “như con thú điên” trước cảnh tang thương ấy, thì chính ông lại biến con gái mình thành nạn nhân của tư tưởng cố chấp và thói hám của. Một mặt, ông bắt một đứa phải nhai lá thuốc để bỏ đi cái bào thai mà cô lỡ có với người con trai vừa bỏ mạng bị trận sạt lở. Mặt khác, ông sẵn sàng bán đứng đứa con gái út cứng đầu, một đứa con đi hoang khỏi gia đình, dám chống đối cái nề nếp gia phong, cái quy luật định sẵn cho đám con gái để đòi được sống như nó muốn. “Tôi biết, nếu chúng tôi ngoan ngoãn tử tế như các chị đã được gả chồng, thì bố có thể thu về một món kha khá từ khoản lễ lạt do nhà trai đưa đến. Giờ thì trắng tay, bố không điên sao được”.

Người cha mà cô vẫn cố níu kéo và hy vọng ở tình ruột thịt, vẫn “muốn được về nhà với bố” ngay cả khi thân xác đau đớn nhất vì bị xâm hại, hóa ra lại chính là người đã mặc cả sau lưng con gái mình cho một hợp đồng đẻ thuê, mà thực tế là môt cuộc cưỡng bức giao phối với gã lái buôn măng đen, và hơn thế tước đi quyền nuôi đứa trẻ của cô ngay sau khi sinh nở. Trước khi cái sự thật đau lòng ấy được phơi bày cuối truyện, cô gái vẫn nghĩ về cha mình “lão già khốn khổ đã quá mệt mỏi với việc giữ gìn nề nếp gia đình cũng đành buông xuôi” để rồi chính cô phải ăn quả đắng, còn đắng hơn cả măng đắng.

Tuy nhiên, khi cao trào cũng là nút thắt cuối cùng của câu chuyện diễn ra, trong cái đau đớn của việc sinh nở, nhưng không đau bằng nỗi đau bị bắt mất con, cô gái nhìn thấy bố “miệng méo xệch, tay run run” và “ông đổ xuống chân tôi”. Chỉ một chi tiết rất nhỏ, cũng là chi tiết duy nhất mà tới lúc này cô gái mới thực sự thấy ở người cha một chút tính người sót lại: ông hoàn toàn gục ngã dưới chân đứa con gái mình, cái ‘mầm đắng’ mà ông vẫn nhìn nhận nó từ lúc nhỏ tới giờ như một nguy cơ của mọi bất hạnh và bi kịch nếu nó hủy hoại nề nếp gia phong, nhưng rồi chính ông lại giúp biến cái nguy cơ đó thành hiện thực.

Lẽ thường, trong sự đau đớn ấy là niềm căm hận, thù oán, cô gái có quyền oán hận cha mình. Nhưng ngay khoảnh khắc ấy, cô đã thấy ông cũng chỉ là một nạn nhân của cái tư tưởng hủ tục đã bủa vây lấy chính cuộc đời ông và những người thân nhất, những người mà ông sẵn sàng đánh đổi vì thể diện, vì những của cải vật chất lúc này đã xâm nhập vào gia đình ông (“Bố thương xót ông nội, bà nội và mẹ, hay xót cái cơ nghiệp bị vùi lấp, xóa sổ trong tích tắc?”). Đây chính là điểm đặc biệt mà ‘nữ quyền’ ở Mầm đắng khác với những tác phẩm cùng tư tưởng khác. Tác giả đã nhìn thấy phương diện nạn nhân của chính những tác nhân, những chủ thể của trật tự độc tôn nam giới, gia trưởng - họ mới chính là những kẻ thất bại và hoàn toàn đổ vỡ.

 

Mấy vấn đề về phương pháp sáng tác

Tống Ngọc Hân là một nhà văn trẻ, sinh sống ở Lào Cai, nơi mà cô đã có những trải nghiệm phong phú về cuộc sống của người dân một tỉnh miền núi phía Bắc, đang ở trong thời kỳ thay đổi từng ngày, với ngồn ngộn chất liệu của những số phận, những cảnh đời. Khác với những tác phẩm trước đó của tác giả đậm chất văn hóa, phong tục vùng cao, Mầm đắng kể lại câu chuyện cuộc đời của một cô gái người dân tộc Giáy, nhưng đặt trong sự đan cài, đối lập giữa hai khung cảnh: bản nghèo đang bắt đầu chịu tác động của đô thị hóa, và cuộc sống nơi thị thành. Nhân vật tôi là một đại diện cho những người muốn vượt thoát khỏi cái truyền thống cổ hủ, lạc hậu, nhưng lại không được trang bị để ứng phó với cái mới bên ngoài. Kết quả, cô gái trở thành nạn nhân của cả hai: bị xã hội ruồng bỏ, và bị chính cha đẻ của mình, người đại diện cho tư tưởng cũ, làm hại.

Với lối viết kiểu tự thuật dồn dập tình tiết, diễn tiến câu chuyện nhanh và mạnh, cộng với lối hành ngôn trực diện, không úp mở, câu chuyện giống như một cuốn phim tua nhanh, hay một phóng sự chân thực về cuộc sống. ở đó có đủ những chuyện thời sự, những tệ nạn xã hội, những bi kịch có thật hoàn toàn có thể xảy ra với bất kỳ ai, đặc biệt là đối với phụ nữ.

Bỏ qua một số đoạn kể chuyện hơi gấp gáp, hoặc tình tiết mang tính khiên cưỡng (nhân vật chính bị mất việc hướng dẫn viên du lịch vì nói chuyện chủ quyền biển đảo với khách, sau đó không được nơi nào nhận và buộc phải trở về quê nhà), bỏ qua cách hành văn còn hơi cứng và thiếu vắng chi tiết mang tính văn chương, Mầm đắng là một tác phẩm đáng khen ngợi bởi bút pháp chân thực của tác giả.

Từ hình ảnh những cây măng đắng, nguồn kinh tế duy nhất của gia đình nhân vật chính, tác giả đã thành công trong việc đặt ra một ẩn dụ về ‘mầm đắng’ xuyên suốt câu chuyện. Đó là một ngầm chỉ về nhân vật chính, một cô gái với đầy đủ khát khao tự do, được sống là chính mình, nhưng đã bi vùi dập từ nhỏ bởi tư tưởng trọng nam khinh nữ ăn sâu vào gốc rễ từng gia đình. Theo đó, chính cô cũng là một ‘mầm đắng’, một kẻ bất tuân, không phục tùng lề thói và sự sắp đặt do những người thân trong gia đình áp chế. Nhưng trước hết, cô là một ‘mầm đắng’ bởi giới tính nữ của mình. Và cái ‘mầm đắng’ ấy rốt cục lại sinh ra một ‘mầm đắng’ khác trong sự thỏa thuận mua bán của chính người cha: “Tiếc gì cái mầm đắng ấy…”

Câu chuyện tưởng chừng dễ đọc, dễ hiểu và dễ nhận diện chung với những tác phẩm cùng dòng tư tưởng, nhưng lại đặt ra khá nhiều vấn đề buộc phải suy ngẫm. Đó là thân phận của người phụ nữ dường như vẫn đầy bấp bênh, rủi ro, xô dạt và không có điểm tựa trong xã hội hiện đại. Vấn đề không mới, nhưng bối cảnh không hề cũ: sự đổi thay và hiện đại hóa của xã hội một mặt giúp thay đổi, xóa bỏ những cái cũ kỹ, lạc hậu, một mặt cũng để lai những thương tổn, bi kịch cho nhiều số phận, khi mà cái mới, cái tiến bộ vẫn chưa thắng thế trong buổi giao thời.

Một điểm đặc biệt nữa của phương diện nữ quyền trong tác phẩm là sự mạnh mẽ, vượt thoát khỏi vị thế nạn nhân của nhân vật nữ để nhìn thấy sự thất bại, gục ngã và trả giá của chính tác nhân gây nên bi kịch cho mình.

Tuy không tuyên ngôn, nhưng câu chuyện giống như ‘thuốc đắng giã tật’, đưa ra một bi kịch để cảnh tỉnh cho lòng yêu thương, tình cảm gia đình - những chân giá trị đã và đang chịu va đập ghê gớm của quá trình chuyển dịch xã hội kể trên và có nguy cơ bị vùi lấp, làm cho con người trở thành nạn nhân của nhau. Chính ở điểm này, tác phẩm vẫn còn le lói một niềm tin, một niềm hy vọng trong sự mất mát.

Đỗ Anh Đức

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại