Một công trình thẩm bình thơ đầy tâm huyết
19-01-2016 11:43


(Toquoc)- Thẩm bình thơ chữ Hán nói chung là việc khó và nhất là thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh càng khó hơn gấp nhiều lần. Thế mà, nhà nghiên cứu lý luận, phê bình văn học Lê Xuân Đức đã bỏ ra trên dưới 40 năm để thẩm bình tương đối đầy đủ các bài thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chưa vội bàn đến chất lượng của các bài thẩm bình, chỉ riêng công sức ông bỏ ra ngần ấy thời gian chỉ để làm một việc mà ông tâm huyết, cũng đáng để cho không ít người phải tâm phục, khẩu phục.

Cái khó của việc thẩm bình thơ

Những năm gần đây, trong giới sáng tác văn chương lác đác có một số cuốn sách bàn luận, thẩm bình thơ như: Thơ Việt Nam tìm tòi và cách tân 1975- 2005 (Nxb Hội Nhà văn, 2007) của Nguyễn Việt Chiến, Bình thơ của Vũ Quần Phương (Nxb Dân trí- 2012), Ngẫm trong thơ của Vân Long (Nxb Thanh niên, 2012), gần đây nhất Nguyễn Hữu Quý đã cho ra mắt bạn đọc cuốn Theo dòng thi ca (Nxb Quân đội Nhân dân, 2015)... ít nhiều gây được ấn tượng tốt trong lòng bạn đọc yêu thích thơ ca.

Còn trong giới nghiên cứu lý luận, phê bình văn học trước đây, những cuốn sách chuyên bàn về thơ cũng không phải là ít. Trần Đình Sử với Thi pháp thơ Tố Hữu (1987), Thi pháp Truyện Kiều (2001); Hà Minh Đức có Nguyễn Bính thi nhân của đồng quê (1996), Văn thơ Hồ Chí Minh (nghiên cứu, 2000). Mới đây có Thơ Việt Nam hiện đại, tiến trình và hiện tượng của Nguyễn Đăng Điệp (Nxb Văn học, 2014); Mai Văn Phấn và hành trình thơ vào cõi khác của Ngô Hương Giang và Nguyễn Thanh Tâm (Nxb Hội Nhà văn, 2015)...

Trước đây đã từng có một số cuốn bàn về các tác phẩm và tác giả thơ theo hướng dựng lại chân dung con người cá nhân và sự nghiệp sáng tác thi ca của họ hơn là chuyên về thẩm bình thơ, đại loại như: Hồ Xuân Hương, Xuân Diệu, Tế Hanh, Chế Lan Viên, Phạm Tiến Duật, Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ... Cuộc đời và thơ ca.

Tuy nhiên, trong hầu hết các sách giáo khoa bậc học phổ thông và các giáo trình văn học bậc cao đẳng và đại học, giới nghiên cứu, lý luận và lịch sử văn học, thường chú tâm đến phần nghiên cứu lý thuyết, phần thẩm bình thơ chỉ là những dẫn chứng minh họa hoặc giảng giải ý nghĩa, nội dung của tác phẩm thơ. Việc thẩm bình thơ dường như các nhà thơ làm tốt hơn các nhà nghiên cứu, lý luận văn học. Cũng cần nói thêm rằng trong các tập chuyên luận về văn chương, ít nhiều cũng có những bài, chương, mục bàn về thơ Bác và chắc chắn cũng sẽ có phần thẩm bình thơ, nhưng chỉ là giúp học sinh, sinh viên và người đọc bình thường bước đầu lĩnh hội những kiến thức cơ bản về cái hay, cái đẹp trong tác phẩm thơ ca của Người.

Nói như vậy để thấy thẩm bình thơ là một công việc khó, nên không mấy người dám mạo hiểm bỏ quá nhiều thời gian để dấn thân vào lĩnh vực này. Chả thế mà trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại chưa thấy ai vượt qua được hai cây bút thẩm bình thơ hạng nhất là Hoài Thanh và Hoài Chân với tác phẩm nổi tiếng Thi nhân Việt Nam khiến cho nó sống mãi với thời gian và đi cùng năm tháng, dù rằng tác phẩm ấy đã ra đời từ 1942, cách thời điểm này gần 75 năm về trước.

Chắc chắn là người thẩm bình thơ phải am tường ngôn ngữ văn bản gốc. Chữ Hán vốn rất phong phú, đa nghĩa, mà hiện nay ngay cả giới trẻ Trung Quốc cũng coi nó như một thứ văn tự cổ, khi họ sử dụng tiếng Trung bạch thoại làm ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày. Mặt khác Bác Hồ, ngoài tư cách là một lãnh tụ Cộng sản vĩ đại của dân tộc ta và những người yêu chuộng hòa bình, độc lập dân tộc trên toàn thế giới, Người còn là một nhà văn hóa lớn, mang tầm cỡ quốc tế, nên để hiểu được thơ của Bác là một việc khó, và để cảm nhận được các cung bậc, chiều kích tâm trạng tác giả trong quá trình sáng tạo, cái hay, cái đẹp trong mỗi vần thơ của Người xem ra lại càng khó hơn.

Một công trình thẩm bình thơ đầy tâm huyết - ảnh 1
Bìa sách

Những thành công rất đáng ghi nhận

Được biết thời điểm cuốn Thẩm bình thơ chữ Hán Hồ Chí Minh của nhà văn Lê Xuân Đức được Nhà xuất bản Chính trị quốc gia- Sự thật Việt Nam và Nhà xuất bản Nhân dân Giang Tô, Trung Quốc phối hợp xuất bản, 2015, cũng là lúc tác giả cho ra mắt cuốn Thẩm bình thơ Ngục trung nhật ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh, song ngữ Việt- Trung, do hai dịch giả Lương Viễn, Chúc Ngưỡng Tu dịch sang tiếng Trung và Nhà xuất bản Công an nhân dân ấn hành, 2015.

Trước đấy, nhà văn Lê Xuân Đức đã từng công bố nhiều công trình nghiên cứu lý luận, thẩm bình thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Đến với những bài thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh (Nxb Giáo dục), Thi hứng thêm nồng (Nxb Quân đội Nhân dân), Đọc thơ Bác Hồ (Nxb Thanh niên), Lời bình 79 bài thơ của Bác Hồ (Nxb Văn học), Tinh hoa thơ Hồ Chí Minh (Nxb Văn học), Lời bình thơ chữ Hán Hồ Chí Minh (Nxb Văn học), Nay ở trong thơ (Nxb Văn học), Đi tìm xuất xứ thơ Hồ Chí Minh (Nxb Văn học), Nhật ký trong tù và lời bình (Nxb Văn học), Đọc thơ Hồ Chí Minh (Nxb Chính trị quốc gia- Sự thật), Ngục trung nhật ký- Thẩm bình (Nxb Chính trị quốc gia- Sự thật)...

Như vậy có thể nói cho đến nay trong giới sáng tác cũng như giới nghiên cứu lý luận, phê bình ở nước ta chưa có bất kỳ một người nào dành cả cuộc đời hoạt động văn học của mình chỉ để nghiên cứu và thẩm bình thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh như nhà văn Lê Xuân Đức.

Nhà văn Lê Xuân Đức đã làm được một việc mà không phải ai cũng có thể. Trước hết với sự ngưỡng mộ và cảm phục sâu sắc về Bác, cũng như thơ ca của Người, nên nhà văn Lê Xuân Đức đã không tiếc công sức, trí tuệ và tình cảm của mình lặn lội đến khắp những nơi Bác đã từng đặt chân, sống và làm việc để tìm gặp lại những nhân chứng lịch sử, nếu còn sống, trao đổi với các học giả nước ngoài chuyên nghiên cứu về Bác hoặc là vào các thư viện còn lưu giữ các tài liệu có liên quan đến thời điểm Bác sống, làm việc hoặc bị cầm tù ở đấy để ghi chép, chú giải tường tận, những mong làm tăng độ tin cậy của công trình nghiên cứu và thẩm bình thơ Bác và cũng là để giúp bạn đọc hiểu một cách đầy đủ hơn về xuất xứ, bối cảnh ra đời, tức là không gian nghệ thuật của những tác phẩm thi ca mà Bác đã từng sáng tác nhằm góp phần giúp bạn đọc càng thêm yêu thêm quí vị lãnh tụ thiên tài của cả dân tộc, cũng như sự đa dạng phong phú trong tâm hồn người chiến sĩ cách mạng, anh hùng giải phóng dân tộc qua các bài thơ của Người ở những thời điểm khác nhau. Dù khi về nước chỉ đạo cách mạng, cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta kiên quyết đánh đuổi kẻ thù xâm lược, giải phóng dân tộc hay khi đối mặt với án tử hình trong nhà lao thực dân đế quốc, Bác vẫn luôn ung dung, tự tại, nên tâm hồn và cảm xúc của Người trong các vần thơ luôn tươi sáng, lạc quan, tin tưởng ở tương lai của cách mạng Việt Nam:

Ngâm thơ ta vốn không ham

Nhưng mà trong ngục biết làm chi đây

Ngày dài ngâm ngợi cho khuây

Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do

(Mở đầu tập nhật ký- Bản dịch của Nam Trân)

Hơn thế, ông còn lần tìm những tác phẩm của các chiến sĩ cách mạng, những người học trò mà Bác đã đào luyện nên để thấy được sự tương đồng về chí hướng cách mạng cũng như nhân cách cao thượng của người chiến sĩ cộng sản kiên trung. Chẳng hạn như ở Bài thơ đề từ Bác đã viết:

Thân thể ở trong lao

Tinh thần ở ngoài lao

Muốn nên sự nghiệp lớn

Tinh thần càng phải cao

(Bản dịch của Nam Trân)

Còn Hoàng Văn Thụ cũng đã viết khi bị thực dân Pháp bắt bỏ tù:

Việc nước xưa nay có bại thành

Miễn sao giữ trọn được thanh danh

Phục thù chí lớn không hề nản

Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành

Thân dẫu lao tù lâm cảnh hiểm

Chí còn theo dõi buổi tung hoành

Hỡi bạn xa gần hăng chiến đấu

Trước sau xin giữ tấm lòng thành.

(Nhắn bạn)

Tố Hữu có lần viết:

Roi điện cùm xai toé máu tươi 

Xà lim không thể khóa hồn người 

Bừng bừng tiếng hát rung song sắt 

Tiếng hát ta bay lộng giữa đời... 

(Quê mẹ) 

Và Xuân Thủy trong bài Không giam được trí óc cũng đã viết:

Đế quốc tù ta, ta chẳng tù 

Ta còn bộ óc, ta không lo 

Giam người, khoá cả chân tay lại 

Chẳng thể ngăn ta nghĩ tự do.

Phần lớn trong số hơn 180 bài thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được nhà văn Lê Xuân Đức thẩm bình đều có chung một điểm tương đồng là tác giả đã chọn một câu thơ, mà ông cho là đắc địa nhất để đặt làm tiêu đề trước khi thẩm bình các bài thơ của Bác. Chẳng hạn bài Mở đầu tập nhật ký của Bác, Lê Xuân Đức chọn tiêu đề cho phần thẩm bình thơ của mình: Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do; tương tự như vậy, ở bài Bị bắt giữ ở phố túc vinh, tiêu đề phần thẩm bình là: Túc vinh mà bắt ta mang nhục; ở bài Vào nhà ngục huyện Tĩnh Tây có: Còn lại trong tù khách tự do...

Việc chọn các câu thơ của Bác làm tiêu đề cho phần thẩm bình của mình cho thấy nhà nghiên cứu lý luận, phê bình Lê Xuân Đức khá tinh nhạy trong việc nắm bắt hồn cốt các bài thơ chữ Hán của Người. Chỉ cần nhìn vào tiêu đề, người đọc có thể đoán biết được ý hướng thẩm bình của tác giả bám sát vào điểm cốt yếu của bài thơ, không lan man, xa vời, không tán thưởng lung tung. Điều ấy cho thấy sự kính trọng rất cao của nhà phê bình đối với các bài thơ chữ Hán của Bác và cũng là một thái độ khoa học nghiêm túc của tác giả.

Nhìn chung phần thẩm bình của nhà văn Lê Xuân Đức hàm súc về ý tứ, trong sáng về ngôn từ, giản dị về phong cách, có thể phù hợp với nhiều đối tượng bạn đọc, từ những người đọc thông thường để giải trí cho đến các nhà nghiên cứu lý luận, phê bình chuyên ngành văn học. Ông đã kết hợp giữa thẩmbình một cách hài hòa, nhuần nhị, lấy xúc cảm thẩm mỹ làm mũi nhọn đột phá để lĩnh hội cái hay cái đẹp của thơ Bác, chứ không rơi vào tình trạng giải thích ý nghĩa bài thơ một cách sơ lược, như một số người đã từng làm trước đây.

Đấy là những thành công rất đáng ghi nhận của nhà văn Lê Xuân Đức. Chúc ông gặt hái được nhiều thành công hơn nữa trong việc sưu tầm, nghiên cứu và thẩm bình thơ Bác./.

Viên An

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại