"Mùi"(*) và những nẻo đường khát vọng
05-08-2015 03:52


T
tập Thế giới bàn tay trái(**), Hoàng Vũ Thuật đã có con đường thơ riêng. Ông biết chuyến ngược đường ấy ít có sự chia sẻ, đồng cảm nhưng tâm thơ, tư duy thơ của ông vẫn trước sau như một, bởi, ở đó, ông mới tìm thấy được đường bay của tự do. Tiếp tục sự hôn phối giữa hữu thức và vô thức, tập Mùi lại tuyên ngôn về tự do trong sáng tạo, về mặt trái của cuộc sống nhưng triết luận hơn, trực diện hơn và khát vọng tự do cháy bỏng hơn.

Những câu thơ vọt máu phát cuồng quất vào bức tranh

Trong một bài trả lời phỏng vấn nhà thơ Nguyễn Đức Tùng, Hoàng Vũ Thuật đã tâm sự: “Trong sáng tạo, cái riêng con người, chất cá thể con người làm nên cá tính sáng tạo. Mà cái riêng, chất cá thể đó luôn đẩy con người về phía cô đơn. Vậy thì cô đơn là một biểu hiện tâm trạng. Thơ ca khai thác tâm trạng đó để sáng tạo tác phẩm. Ở góc độ thẩm mỹ, tôi nghĩ, trong ý niệm tương đối cô đơn thuộc phạm trù cái đẹp. Tôi, không loại trừ trong cái ẩn số đó” (Thơ đến từ đâu). Nỗi cô đơn như là vận mệnh, là cái kiếp đeo đuổi trong suốt hành trình thơ ca Hoàng Vũ Thuật. Ở tập Mùi, dòng chảy cảm thức cô đơn, nỗi buồn âm ỉ vẫn là chủ âm và cũng là chủ âm thơ ca Hoàng Vũ Thuật. Khác với những tập thơ trước, nỗi cô đơn trong Mùi đeo đẳng hồn thơ đến kiệt cùng. Mùi buồn ăm ắp chảy trong huyết mạch của từng con chữ. Vẫn thế giới lệch pha nhưng mùi của Mùi đã khác. Thực. Nghiệt ngã. Đớn đau hơn.

Cảm hứng thế sự được nhà thơ Hoàng Vũ Thuật chú trọng trong tập Mùi. Cảm hứng thế sự không lạ đối với thơ ca từ trước cho đến nay. Chúng ta có thể thấy rất rõ trong thơ của những cây bút ngoi tứ tuần như Mai Văn Phấn, Nguyễn Quang Thiều, Trần Quang Quý, Lê Xuân Đố, Phan Hoàng... Vấn đề ở chỗ, các nhà thơ khai thác ở mức độ nào, nói thẳng hay quanh co, ẩn ý. Thể tài này nếu không thực sự tinh tế, nhạy cảm trước những vấn đề của xã hội thì thơ dễ rơi vào sự khô khan, kể lể, nặng tính giáo điều hoặc rơi vào trường hợp thơ bí hiểm, ma trận, đánh đố người đọc. Mùi của Hoàng Vũ Thuật vừa trực diện vừa đầy ám dụ. Hiện thực đớn đau, đổ nát, mất mát, chia lìa... trong Mùi được chứng nghiệm bởi một cái tôi hiện sinh, khao khát được sống tự do, tìm kiếm tự do đích thực.

Trước sự thay đổi, man trá của con người, trước những cơn nhũng nhiễu, phi lý của cuộc sống, Hoàng Vũ Thuật cay đắng chỉ ra từng phiên bản, bóc tách từng lớp vỏ đang tồn tại một cách thản nhiên qua những hình ảnh hết sức chân thực. Hình ảnh nào cũng đậm dấu ấn cái tôi cá nhân, có khả năng biểu hiện tâm trạng, tư tưởng, triết lý của nhà thơ về cuộc sống. Cõi thế triền miên trong sự bất an, chiến tranh, chết chóc (Hai ngày không tôi), trượt dài trong cơn sốt băng hoại về nhân phẩm, đạo đức, lương tâm (Mùi). Con người đối xử với con người đều nằm trong guồng toan tính ích kỉ, hẹp hòi. Hệ quả, máu và nước mắt song hành ngay trong từng hơi thở, suy nghĩ, hành động: “buồn làm chi nỗi buồn kiếp này/ vạn kiếp sau/ còn nữa/ đây là con đường đồng loài lấn chen/ đẩy xô/ nối thành dòng máu đỏ” (Một năm trôi qua hay một đời). Nếu ở nơi khác, xứ sở khác, loài chim được yêu mến, nâng niu thì nơi này, chúng không có được tự do, cái chết rình rập khắp chốn (Trước nhà thờ Đức Bà Paris). Kẻ yếu luôn bị uy hiếp trong từng ngày từng giờ: “sinh ra nơi ấy/ biết mình là ai/ cá theo bầy bằng tín hiệu đen/ sống/ phải ngụp sâu năm tấc nước/ dại dột/ dâng mồi cho kẻ ác/ đêm và đêm và đêm và đêm” (Chim mắt mù). Phiên bản cuộc sống trong Mùi còn nham nhở vết sẹo của những năm tháng khổ đau, mất mát, tang thương. Đặc biệt, thân phận con người cứ ám ảnh day dứt, lay động. Số phận con người trở nên mong manh, nhỏ bé, bất lực trước những cơn chấn động của thiên nhiên (Lá cứ hồn nhiên); éo le trước khát vọng đi tìm tự do, đòi công lý, hòa bình (Janet); u buồn, lạc loài giữa bộn bề cuộc sống (Cuống rốn); hoài nghi, ám ảnh trước những cái chết phi lý (Viết cho một người bạn vừa treo cổ)... Người chết đã chết nhưng vẫn còn day dứt chưa thể rời cõi dương thế (Hà Tiên). Chiến trường bom đạn tàn khốc, xen cả tiếng cười lẫn nước mắt, sự sống và cái chết, ánh sáng và bóng tối vẫn hằn sâu, dội về, trong tâm khảm nhà thơ (Hai ngày không tôi, Bức tường kỷ niệm chiến tranh Việt Nam ở Washington). Ngọn gió Hoàng Sa không phải là ngọn gió của thiên nhiên nữa mà đã khoác vào nó tiếng lòng của biết bao số phận “ở lại không về”: “không ngọn gió nào như gió ở đây/ bảy mươi tư cuộc đời bảy mươi tư kiểu gió/ gió ngầm gió nổi gió cuốn chiếu gió ngang dọc/ gió trầm hùng gió quả cảm gió kiên trung gió bền chặt/ gió chủ quyền/ gió xoáy óc/ gió đòi nợ gió giữ nhà/ gió giành lại đất/ gió gọi gió// không ngọn gió nào như gió ở đây” (Gió Hoàng Sa). Thủ pháp liệt kê làm cho nhịp thơ nhanh hơn, lời thơ thổn thức hơn, cắm neo vào lòng người bao nỗi dằn vặt khôn nguôi.

Có thể nói, Mùi phản ánh khá trung thực đời sống nhân loại, bè nổi lẫn bè trầm đều tồn tại nhiều khổ đau, chia lìa, li tán... Nó khiến con người phải oằn lưng gánh chịu những thương tích, những lở lói chưa thể liền sẹo. Hoàng Vũ Thuật tháo tung, giải phẫu cõi thế của Mùi với một khao khát thay đổi lại thế giới này, để con người đến với con người bằng tấm lòng chứ không phải bằng sự đố kị, ích kỉ, hẹp hòi, để chúng ta dừng lại trước những thi ảnh, ngẫm ngay từng ý tưởng mà tự vấn, suy nghĩ, thiết lập một bầu không tươi đẹp hơn. Ý thức ấy xuyên qua mỗi con chữ, mỗi câu thơ, mỗi thi ảnh. Vì thế, bài thơ nào của ông cũng nằng nặng nỗi lo, bất an trước trắc trở của nhân loại. Nhà thơ nhận biết được, thấy được và can đảm, táo bạo lật tẩy những gì đang tồn tại hai mặt. Nhưng một khi máu và nước mắt song hành thì đâu dễ cứu vãn được? Ngay cả âm thanh của cuộc đời này cũng không thể tự do thoát ra ngoài. Tiếng chó sủa trong Mùi không phải từ nơi này, không gian thực, mà vang lên từ phía bên kia bầu trời, không gian ảo, sắc đến độ làm rách cả trang sách, dai dẳng đến độ hơn cả tiếng rít thuốc lào. Âm thanh quen mà lạ ấy quấy đảo cả một thế hệ đeo mặt nạ: “chó vẫn sủa vang phía bên kia trời/ làm rách trang sách trên tay/ dai dẳng hơn tiếng rít thuốc lào đơn chiếc/ khói trắng dã gương mặt thế hệ dối lừa/ họ không là họ” (Cuống rốn). Nhưng thế đấy, chỉ có tiếng sủa bên kia mới tồn tại, tự do, còn tiếng sủa ở thế giới này không đủ sức để thoát âm thanh ra ngoài mà tức khắc sẽ bị lôi tuột vào cuống họng: “cuộc đời này thứ gì cũng khó nguyên vẹn/ con chó sủa lên lập tức cái đuôi trắng/ thôi ngúng nguẩy” (Ánh chớp). Cho nên, nỗi buồn ấy cứ giăng mắc, tràn ngập, vây bủa, bám víu lấy hồn thơ ông. Cái tôi buồn, bơ vơ, ngậm ngùi của nhà thơ cứ loang chảy trong từng kí tự: nhọc nhằn, mỏi mệt, buồn đau, mỏi mòn, kiệt quệ, vô vọng, buồn thiu, đớn đau, le lói, rên rỉ, dật dờ, đắng cay... về nỗi bi thiết của con người và sự khúc khuỷu của cuộc sống.

Bất lực, không thể làm gì được khi cuộc sống này luôn bị giằng xé giữa cái thiện và cái ác (Tưởng tượng), ông tâm sự, trò chuyện với những con vật nhỏ bé: chú sóc nhỏ, đàn chim ở nhà thờ Đức bà Paris, loài chim mắt mù, chim cuốc cuốc... như là một cách giải tỏa, an ủi chính mình. Ông tin sự có mặt của chú sóc nhỏ có thể làm cho “thế giới này thánh thiện/ sẽ bớt đi phần ác trong mỗi con người” (Chú sóc nhỏ của tôi). Niềm tin dù ít ỏi, chừng đó thôi nhưng cũng đủ để người đọc nhận biết tấm lòng, trách nhiệm của thi nhân đối với cõi thế này. Chính nhà thơ đã tự nhận: “tôi là thằng gù Quasimođo/ đơn độc/ kéo hồi chuông/ hỡi những hồn oan bé nhỏ bây giờ nơi đâu” (Trước nhà thờ Đức Bà Paris). Đằng sau những thanh âm tê tái, đằng sau giọng thơ tự sự rất thật và cũng hết sức bình thản ấy là nỗi niềm của một trái tim đang ứa máu trước cuộc sống nhân loại. Hồi chuông có thể không đủ vang khắp nhưng ít nhiều đã thăng hoa vẻ đẹp tâm hồn của thi nhân.

J.P.Sartre xem con người vừa là thực thể vừa là một chủ thể. Trước thực tại nhiễu loạn, bất an, phi lý, thân phận con người trở nên mong manh, rơi vào trạng huống cô độc, lẻ loi, hoang mang, chán nản, hoài nghi, thất vọng, không có điểm tựa. Nhưng con người hiện sinh là con người tỉnh ngộ, luôn ý thức mãnh liệt về hiện trạng, khả thể sống, dám đối diện, nhìn thẳng sự thật. Ý thức bản thể, tinh thần dấn thân rất rõ trong Mùi. Trước hiện thực cuộc sống đầy biến động, ẩn chứa lắm điều kì quặc, lắm chông bẫy, mọi giá trị đều bị đảo lộn, Hoàng Vũ Thuật không hề chùn chân, ngược lại, ông sẵn sàng đối chứng bằng chính thể xác và tâm hồn của mình, sẵn sàng nhận lấy nỗi đau về phía mình để nguyện cầu một thế giới an bình. Quan niệm “chân trời nào không tìm kiếm tự do”, hồn thơ của ông luôn nằm trong tâm thế sẵn sàng “ý nghĩ phóng lên cao vút/ bay cùng mây/ chân đạp đất băng băng nghìn gai nhọn” (Không không phải). Đôi lúc, ông cảm thấy bất lực, tự vấn mình một cách chua chát “thấy mà cũng đành”, nhưng, ông không trượt vào sự chán chường, không tự trốn chạy mà luôn tìm cách để chống chọi đầy bản lĩnh: “chỉ mình anh đi về phía ấy” và vẫn không ngừng hi vọng, chờ đợi: “tôi vẫn chờ sự thuần khiết của đôi môi thiên đường/ niềm đau ngọt ngào trần thế/ những lóng xương cứu rỗi bắt đầu bén rễ nơi vực thẳm” (Tưởng tượng). Bản lĩnh ấy của nhà thơ Hoàng Vũ Thuật là mấu chốt, là cái neo để giúp ông tiếp tục chiến đấu, sống hết mình với đời và với thơ ca.


Bầu không hư - thực

Chịu nhiều ràng buộc, nhiều áp lực cùng với sự hao mòn niềm tin trước cuộc đời, Hoàng Vũ Thuật không thể cất lên tiếng nói của chính mình buộc ông mượn giấc mơ, mượn cái chết, phân đôi bản thể đi vào cõi vô thức, cất lên tiếng nói tự do, khát khao tìm kiếm, chiếm lĩnh tự do đích thực.

Ngôi nhà cỏ, Màu (**), giấc mơ còn có chỗ cho sự thăng hoa tình, giọng thơ đắm say, sang tập Mùi, giấc mơ cất dấu nhiều nỗi niềm, sự lo lắng, hoang mang, giọng thơ trầm buồn. Giấc mơ xuất hiện nhiều lần trong tập Mùi và trở thành một trong những biểu tượng giúp Hoàng Vũ Thuật diễn đạt, bộc lộ, phơi bày chiều sâu của thế giới nội tâm cũng như những mặt trái của cuộc sống trần thế. Nếu giấc mơ thường đưa các nhà thơ giải thoát khỏi những bế tắc, tuyệt vọng, tìm đến một cuộc sống viên mãn mà cuộc sống hiện thực không cho phép thì Hoàng Vũ Thuật rất riêng, ông không tìm cái đẹp trong giấc mơ mà mượn giấc mơ để thiết lập một không gian khác lạ cho thực tại. Hỗ trợ đắc lực cho việc xây dựng cõi mơ là sự xuất hiện đậm đặc của không gian ảo, không gian bên kia với nhiều cách diễn đạt khác nhau: phía bên kia trời, bên kia thế giới vĩnh hằng, bên kia thánh đường, thiên đường, nơi vực thẳm, thế giới khác, mặt trời khác, cánh đồng khác, cõi thiền, miền đất lạ, kiếp sau, miền phù du, phía ấy, miền đất khác, thiên đường vô biên, cõi u hoài... Do vậy, không phải giấc mơ nào trong Mùi cũng dễ hiểu mà đôi khi ẩn nhiều bất ngờ, nhiều liên tưởng thú vị, tạo ra những thi ảnh đầy ấn tượng, ma mị, cuốn hút. Ở tập Mùi, thực tại trong mơ của ông không chú trọng nhòe mờ không gian huyền ảo và hiện thực mà đan cài theo kiểu cấu trúc mơ - thực, thực - mơ, thực - mơ - thực, mơ - thực - mơ... Mùi đẩy người đọc vào cõi vô thức rồi tiếp tục đưa người đọc trở về cõi thực hoặc ngược lại là những dụng ý. Giấc mơ giúp nhà thơ đào sâu, mở rộng hiện thực thì nó cũng đồng thời thực hiện nhiệm vụ cởi bỏ, giải phóng những cảm xúc, những ẩn ức bị dồn nén mà hiện thực không thể đáp ứng được, nhờ thế, cái tôi cô đơn, lo âu, dằn vặt của nhà thơ được soi chiếu một cách sinh động. Hay nói cách khác, những thi ảnh trong giấc mộng vừa là sự phóng chiếu, là hình bóng của hiện thực u buồn, nghiệt ngã vừa biểu thị thế giới tâm hồn đầy uẩn khúc, cô độc của nhà thơ.

Các nhà chủ nghĩa hiện sinh xem “cái chết có một ý nghĩa đặc biệt đối với sự sống”. Con người hiện sinh là con người biết bất chấp cái chết để hướng đến sự tự do. Nghĩa là, cái chết khiến con người lâm vào trạng thái cô độc tột cùng, hủy diệt mọi niềm tin, hy vọng nhưng nó cũng giúp con người vượt qua “cái người ta”. Trong thơ Hoàng Vũ Thuật, sự sống và cái chết song hành. Cái chết hiện hữu trong sự sống. Ý thức về cái chết của mình, đứng trong bóng đêm của thế giới khác, nhà thơ soi chiếu hiện thực ở mọi góc nhìn, đem đến cho người đọc những trải nghiệm mới. Ở góc nhìn ấy, cái chết không làm nhà thơ sợ hãi, mà cái chết đã được phóng chiếu qua ý thức, giúp nhà thơ suy ngẫm về cái chết, ý thức về cái tôi của mình. Khám phá sự sống qua cái chết, cái tôi cô đơn của Hoàng Vũ Thuật đã thực sự chạm đến bản thể của sự sống đích thực. Ông tìm tự do và bản nguyên của mình ngay ngưỡng cửa cận kề với cái chết - ngày cuối cùng: “hôm nay ngày cuối/ bắt đầu một kiếp khác/ tự do/ ăn tự do ngủ tự do nói tự do làm tự do sống tự do/ mực thước chẳng cần/ quy tắc chẳng cần/ chẳng cần mọi thứ/ ta là ta mà chưa hẳn là ta” (Người). Mọi khuôn khổ bị xóa bỏ, đập vỡ, nhà thơ hoàn toàn tự do, tự tại. Chông chênh giữa hai thế giới, Hoàng Vũ Thuật còn dấn thân thể nghiệm “hai ngày không tôi”. Hai ngày không là chính mình, vũ trụ quay cuồng, điên đảo bày góc cạnh: “thác máu xối xả/ biển đen ngòm hoại tử/ những bóng câm lặng vật vờ/ những vở tuồng chính trường châu lục/ những chém giết kinh hoàng/ những trận động đất kép” (Hai ngày không tôi). Hiện thực hỗn loạn, nhiều bất trắc ấy đẩy cái tôi của thi sĩ rơi vào tâm trạng hoang mang, đau khổ, buồn não. Nhưng hiện thực ấy cũng đưa nhà thơ đến một bờ yên bình, ở đó không có chỗ ngồi cho sự dối lừa, lợi dụng: “hằng đêm tôi/ ra khỏi tôi/ về phía ấy/ cuộc sống ở đó không đánh lộn không dối lừa/ không thêm bớt/ tự nhiên như cá phèn/ chẳng thể lợi dụng/ vì người ta quên hết/ những từ ngữ lạ cũ xưa rồi” (Cái gì đây). Thì ra, khi không còn hiện hữu, không là chính mình, không có nghĩa nhà thơ trốn chạy mà vẫn tồn tại bằng cách này hoặc cách khác để nhìn về, phản ánh cái thế giới đang hiện tồn và khẳng định sự tồn tại của bản thân.

Đi về giữa quá khứ và hiện tại, giữa hữu thức và vô thức, giữa sự sống và cái chết, giữa cái duy lý và cái phi lý, cái tôi đa diện, đa ngã trong Mùi mang đến những gam màu khác lạ. Thơ Hoàng Vũ Thuật hiện hữu song song giữa hai cái tôi: cái tôi ý thức và cái tôi vô thức. Hai cái tôi này có lúc hòa quyện, có lúc đối nghịch nhưng đều cùng nhau giúp nhà thơ tìm thấy cái tôi của chính mình. Cái tôi vô thức có lúc như đánh mất bản thể trong bầu không khác nhưng đã được cái tôi ý thức dẫn đường, vượt lên nỗi bi phẫn, tiếp tục hành động, dấn thân để kiếm tìm tự do. Bởi lẽ, tự do là bản chất của con người (Sartre). Khát vọng đi tìm tự do đích thực của cuộc sống cũng như việc khẳng định, tìm kiếm bản thể của mình chính là mắt xích, là vẻ đẹp của tập thơ. Vẫn là cách phân thân để đối thoại với chính mình, đối thoại với con người và cả thế giới này như ở Thế giới bàn tay trái, Đám mây lơ lửng, Tháp nghiêng, Ngôi nhà cỏ, Màu(***), nhưng ở Mùi, sự phân thân đã dấn sâu vào tận cùng nỗi cô đơn. “Bóng và anh” vừa nhập hòa vừa khác biệt, khiến nhà thơ nghi ngại chất vấn: “anh vẽ bóng trên mặt kính mờ sương/ rồi dấu mình sau gáy chơi trò ú tim/ mọi cử chỉ mọi việc làm mọi ham muốn/ mọi buồn đau/ bóng đều tường tận/ là người hiểu anh không ngoài ai ra/ nhưng bóng vội nhòa/ làm sao tìm lại/ một giờ bóng giận dỗi bỏ đi chẳng muốn gặp/ anh thành cái xác// sớm mai thức dậy anh thấy mình đã khác/ mình là bóng/ hay bóng là mình/ không biết” (Bóng và anh). Cái tôi băn khoăn luôn truy tìm, cật vấn chính bản ngã của mình. Tồn tại ở cuộc sống này, ta là bóng hay bóng là ta? Một câu hỏi không dễ trả lời. Trải nghiệm ở hai thực tại, thực tại của ý thức và thực tại của vô thức, chúng ta vẫn thấy sự nhập nhằng, lưỡng lự luôn hiện hữu trong thơ Hoàng Vũ Thuật: “giữa mơ và thực/ biết cái nào đánh đổi cái nào đây” (Giấc mơ). Phải chăng sự hoài nghi về con người và cuộc đời khiến Hoàng Vũ Thuật còn bấp bênh, chưa vượt qua được tình trạng hiện thời của bản thân? Thực ra, trong chặng đường tìm về cái tôi bản thể, nhà thơ đã ý thức được, chỉ ở không gian khác, nhà thơ mới được là chính mình, tự do như ngọn gió, rong ruổi khắp chốn: “gió/ gió/ gió/ gió/ nếu không là gió/ tôi đâu còn là tôi” (Gió). Nhưng dù có chập chờn giữa thực và mộng, Hoàng Vũ Thuật lại khá rạch ròi, kiên định. Phân ly cái tôi để tìm cuộc sống đích thực. Và ông rất lý trí khi khẳng định, cuộc sống đích thực, vĩnh cửu tồn tại không phải ở trong giấc mơ mà hiện hữu ngay ở bản thân ta: “chẳng thứ gì vĩnh cửu/ chúa trên cao mấy lần đổi ngôi/ niết bàn hư hư ảo ảo/ mình ta là thật/ hơn mọi sự thật” (Mòn mỏi). Ta tự kiểm nghiệm, tồn tại của bản thân là sự thật. Ta tồn tại, hiện hữu đó mới thật hơn tất cả mọi thứ. Như thế, Hoàng Vũ Thuật đưa vấn đề rồi lại phản đề, không hề mâu thuẫn hay bế tắc mà đó là cách để ông thể hiện sự đối kháng và cảm quan của người nghệ sĩ trước những phồn tạp, bấp bênh của đời sống cũng như ý thức cao về sự tồn tại của chủ thể hiện hữu.

Việc những con chữ xếp chồng lên nhau không theo một trật tự nào, phá vỡ mọi ranh giới, mọi cấu trúc không phải lạ trong Mùi và cả những tập thơ trước đây của ông. Tuy nhiên, không phải người đọc nào cũng thuận lợi trong việc xử lý văn bản, thậm chí đôi khi gây nên những luồng tranh luận, cho rằng thơ ông tắc tị, đánh đố, khó hiểu. Những thi ảnh của Mùi bị xáo trộn trong nhiều chiều không gian, vụt lóe trên cái nền liên tưởng lạ lùng, không mấy liên kết mở ra những khoảng lặng, khoảng trống ám ảnh, đập vỡ tư duy lôgich thông thường. Mặt trời không từ từ nhô lên mà “bay” lên những hàng cây: “mặt trời không chờ cứ bay lên cây”. Gió xuất hiện với hình dạng của kẻ thống trị: “gió dạng háng kiêu kỳ ngã tư”... Kí ức vô hình trở thành một thực thể hành động: “kí ức buồn lặn trong tóc màu nâu nhạt”. Giọng hò trở nên khác lạ khi “đổ” ra những giọt mồ hôi:“giọng hò đổ mồ hôi ẩn khuất dọc bờ sú vẹt”. Những tia sóng hạt chuyển động trong không gian lưỡi phát ra hương vị cuộc sống: “tia sáng mang vị ngọt và đắng xuyên qua/ lối đi của lưỡi” (Ngày mới)... Vốn dĩ, mỗi bài thơ, tự nó đã ẩn chứa các “siêu nghĩa”. Những hình ảnh, những ý tưởng xa lạ, nhảy cóc, khó gắn kết như trên, vừa biểu thị ý tưởng của nhà thơ vừa dẫn dụ, chắp cánh cho sự tưởng tượng của độc giả. Đúng thế, Hoàng Vũ Thuật không chỉ tự do đi về giữa cõi mơ và cõi thực mà còn tự do ngay trong từng con chữ như chính ông đã tuyên ngôn: “tự do như chữ viết có mắt có chân/ bay lên xuyên tường rào xuyên núi xuyên đất/ đến và đi không biên giới” (Tự do).

Mùi chứa đựng trong nó những góc nhìn mới, chiêm nghiệm mới về thế giới, con người và thơ ca. Giọng điệu trầm tư, sâu lắng, đậm chất suy tưởng, liên tưởng đan cài với kiểu kết cấu mới lạ trên cái nền không - thời gian vừa trần tục vừa hư ảo tạo nên những thi ảnh phức hợp, đa nghĩa, tạo nên sức hấp dẫn, cuốn hút riêng cho Mùi. Khó khái quát hết ý đồ nghệ thuật mà Hoàng Vũ Thuật gửi gắm qua bài viết ngắn này, nhưng có thể khẳng định, Mùi giàu tính hàm súc, đa nghĩa, hứa hẹn nhiều sáng tạo độc đáo ở người đọc.

Hoàng Thụy Anh

--------

(*). Mùi, NXB Hội Nhà văn, 2014.

(**) (***) Thế giới bàn tay trái, Đám mây lơ lửng, Tháp nghiêng, Ngôi nhà cỏ, Màu, tên các tập thơ của Hoàng Vũ Thuật.

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại