Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Cao Bằng
15-06-2015 10:50


Nếu tính từ những năm sáu mươi của thế kỷ trước với sự xuất hiện của các cây bút như Triều Ân, Vi Hồng, Lâm Ngọc Thụ... thì văn xuôi Cao Bằng mới có tuổi đời khoảng năm mươi năm. Các tác giả này là những người đặt nền móng cho nền văn xuôi Cao Bằng. Ở Cao Bằng thơ đã hình thành trước văn xuôi ít nhất năm thế kỷ. So với thơ quả thật văn xuôi còn quá trẻ. Do vậy lực lượng cũng còn mỏng và tác phẩm thời kỳ này cũng không nhiều lắm. Sau năm 1975 Cao Bằng hình thành một đội ngũ viết truyện ngắn khá hùng hậu như Cao Duy Sơn, Hữu Tiến, Đoàn Lư, Đoàn Ngọc Minh, Trần Thị Mộng Dần, Mông Văn Bốn, Nguyễn Văn Bính, Nông Quốc Lập, Hồng Cư… Các tác phẩm cũng nở rộ. Đặc biệt là truyện ngắn. Các truyện ngắn của tác giả Cao Bằng được công bố trên báo Văn nghệ ngày càng nhiều, các tập truyện ngắn cũng tăng đáng kể. Một số truyện ngắn đã đạt giải báo Văn nghệ như truyện của Vi Hồng, Cao Duy Sơn. Tạp chí văn Hóa các Dân Tộc như truyện Rừng của Hữu Tiến và một số truyện ngắn viết cho thiếu nhi của các nhà văn như Hữu Tiến, Đoàn Lư, Đoàn Ngọc Minh cũng giành giải thưởng báo thiếu nhi Dân tộc và trong các cuộc thi viết về thiếu nhi khác. Về tập truyện phải kể đến tập Ngôi nhà xưa bên suối của nhà văn Cao Duy Sơn đoạt giải thưởng Hội Nhà Văn Việt Nam và Giải thưởng Văn Học Đông Nam Á, tập Đèo không lặng gió của nhà văn Hữu Tiến đạt giải nhất Giải thưởng Pác Bó của UBND tỉnh Cao Bằng lần thứ nhất. Hai tập truyện ngắn Nắng muộnGió xoáy của nhà văn Đoàn Ngọc Minh được giải thưởng Ủy ban Toàn Quốc các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam. Đó là chưa kể tiểu thuyết Người Lang Thang của Cao Duy Sơn nhận được giải thưởng Hội Hữu nghị Nhật - Việt, tiểu thuyết Hữu hạn của Hữu Tiến đạt giải ba văn học công nhân năm 2014 do Hội Nhà văn Việt Nam và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phối hợp tổ chức. Điểm qua một vài nét như vậy để thấy rằng nền văn xuôi Cao Bằng trong đó chủ yếu là truyện ngắn (thể loại tự sự cỡ nhỏ) tuy non trẻ nhưng đã đạt được những thành tựu nhất định.

Chúng ta đều biết rằng để có được một truyện ngắn thành công phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như nghệ thuật xây dựng cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôn ngữ trần thuật v.v… Trong bài viết này chúng tôi chỉ bàn về ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Cao Bằng.

Ngôn ngữ trần thuật có vị trí quan trọng trong một truyện ngắn. Đồng thời nó cũng góp phần làm nên giọng điệu, phong cách của một tác giả. Nói đến ngôn ngữ trần thuật là nói đến tài năng sử dụng và khả năng làm chủ ngôn ngữ của nhà văn. Sự phát triển cốt truyện và tính cách nhân vật được bộc lộ đậm nhạt đều phụ thuộc khá nhiều vào ngôn ngữ trần thuật của tác giả. Muốn vậy tác giả với vai trò người kể chuyện phải thật năng động, linh hoạt. Tùy từng lúc, từng hoàn cảnh mà thay đổi vị trí, góc nhìn người kể chuyện. Để làm được như vậy nhà văn phải là người giầu về ngôn ngữ mới tạo ra những câu văn lay động lòng người. Và đồng thời cũng tránh được tình trạng truyện ngắn mỏng về chi tiết. Thông thường mỗi truyện ngắn chỉ có một tình huống xảy ra truyện. Nhưng chi tiết càng nhiều thì truyện càng sinh động, càng hấp dẫn người đọc.

Ở Cao Bằng khoảng tám mươi phần trăm các tác giả văn xuôi là người dân tộc Tày. Hầu hết họ dùng tiếng Việt làm phương tiện biểu đạt. Tiếng Việt không phải là tiếng mẹ đẻ của mình. Do vậy trước tiên họ phải vượt qua cửa ải ngôn ngữ rồi mới có thể nghĩ đến việc sáng tạo tác phẩm. Về lĩnh vực ngôn ngữ các nhà văn người Kinh gắng một thì các nhà văn dân tộc thiểu số phải cố gắng gấp mười lần.

Khảo sát một số truyện ngắn của một số tác giả như Triều Ân, Cao Duy Sơn, Hữu Tiến, Đoàn Lư, Trần Thị Mộng Dần, Nguyễn Văn Bính, Đoàn Ngọc Minh, Mông Văn Bốn, Nông Quốc Lập… chúng tôi nhận thấy ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Cao Bằng có những đặc điểm chính như sau:

 

Ngôn ngữ trần thuật mang bản sắc văn hóa miền núi

Trong truyện ngắn Cao Bằng ngôn ngữ các dân tộc miền núi được các tác tác giả chú tâm khai thác. Từ tên nhân vật cho đến địa danh đều là của miền núi. Ta có thể thấy rõ điều này thông qua nhân vật do nhà văn sáng tạo nên. Chẳng hạn nhà văn Cao Duy Sơn có Làn Dì, Pảu, Khuề… Nhà văn Triều Ân có A Pá, Trế Pèng, Xúa… Nhà văn Đoàn Ngọc Minh có Ò Piu, Tẻ Nự. Nhà văn Hữu Tiến có Thùng Chòi, Mùi Nái, Nông Quốc Lập có Lão Tức Thâu… Về địa danh có thể liệt kê ra đây một số tên đất, tên làng như Cô Sầu, bản Phiềng, Phia oắc. Nhà văn Triều Ân đã đưa những địa danh có thật vào trong truyện: “…Lần đầu tiên xa thị xã, bà lên huyện vùng cao với tấm lòng háo hức. Bà nhớ các nơi đi qua: Tinh Túc, Cao Sơn, Cao Lù, Lũng Pán…”. Chỉ cần đọc qua tên nhân vật và địa danh thôi bạn đọc cũng có thể nhận biết câu chuyện xảy ra ở miền núi rồi.

Trong quá trình sáng tạo các nhà văn thỉnh thoảng sử dụng nguyên cả câu thành ngữ, tục ngữ Tày. Ví dụ như “Phỏ khỏ ước ngần muoc tẳm thai”(Kẻ nghèo thèm có bạc vàng đến chết) Nông Quốc Lập dùng trong truyện ngắn Trở về chốn cũ. Hoặc câu “Chạy sói lại gặp lang” có xuất xứ từ câu thành ngữ Tày “Ni slưa rổp ma nầy”(Chạy hổ gặp chó sói) trong truyện ngắn Xứ sương mù của Triều Ân. Xây dựng nhân vật là dân tộc Mông, nhà văn Triều Ân còn cho nhân vật nói tiếng Mông. Ví dụ như nhà văn đã để cho Mỵ chào A Pá bằng một câu tiếng Mông: - A Pá! mùa khứ (A Pá! đi chợ). Bằng lối điểm xuyết như vậy đã nâng tính chân thật của tác phẩm lên rất nhiều.

Các nhà văn Cao Bằng có ý thức khai thác thế mạnh của tiếng mẹ đẻ và của các dân tộc anh em khác. Tuy viết bằng tiếng Việt nhưng câu chữ của họ vẫn mang đậm hồn vía của ngôn ngữ mẹ đẻ. Nhà văn trẻ Nông Quốc Lập tư duy bằng tiếng mẹ đẻ để sáng tạo nên câu văn sau: “Chồng nói như vậy, cô chỉ biết chôn nỗi buồn trong tim, cất nỗi hận trong lòng mà thôi” (truyện ngắn Quay về chốn cũ. Hữu Tiến tả cảnh nhộn nhịp, đông vui của đám cưới người Dao bằng những câu văn thấm đẫm ngôn ngữ Tày: “Chân chưa tới nơi nhưng tiếng cười đã tới. Người chưa thấy đâu, nhưng nghe tiếng nói cũng đủ biết là đông rồi... “Đông thì đông, ánh mắt Mùi Nái vẫn tìm được mắt Thùng Chòi” (truyện ngắn Trăng gần). Để diễn tả niềm vui của người dân bản Muồng lần đầu nhìn thấy ánh điện, Hữu Tiến đã sử dụng linh hoạt cách cảm, cách nghĩ của người Tày: “Đêm đó cả bản hầu như thức trọn đêm cùng ánh điện. Nhà nào cũng đóng cửa, chân nối chân, bước tiếp bước kéo đến quả đồi trước bản để xem ánh điện” (truyện ngắn Kẻ cướp). Nhà văn Cao Duy Sơn đã vận dụng lối ví von cụ thể của ngôn ngữ Tày sáng tạo ra những câu văn mang đậm bản sắc dân tộc: “Đừng cố gắng vô ích, chỉ được càng thêm đau khổ hơn thôi. Chim đã về trời , cá đã ra sông lớn, làm sao tìm được ” hay : “Đây là mặt trời, bao giờ thấy nhớ nhau thì giở ra soi” (truyện ngắn Chiếc gương hình mặt trời).

Trong truyện ngắn Hoa cuối mùa, nhà văn Đoàn Ngọc Minh để nhân vật dùng một lời rủa ác độc cũng đậm chất miền núi: “Mày đi qua núi, trời sẽ lấp đường. Mày đi qua sông thuồng luồng sẽ đón”. Những hình ảnh núi, trời, sông, thuồng luồng rất gần gũi với người miền núi.

Kinh nghiệm cá nhân cho thấy trong khi vận dụng cách cảm, cách nghĩ hay lối nói ví von cụ thể của người miền núi nếu không khéo tác giả dễ rơi vào lối văn biền ngẫu cổ xưa.

 

Kết hợp giữa tả và kể

Thủ pháp kết hợp giữa tả và kể đã làm cho truyện ngắn hiện đại thoát khỏi sự níu kéo của truyện kể dân gian tồn tại hàng nghìn đời. Ở truyện kể dân gian chủ yếu là kể lại diễn biến sự việc hay hành động nhân vật mà rất ít tả. Hoặc giả có miêu tả chỉ miêu tả ngoại hình nhân vật như nét mặt, giọng nói, dáng đi… mà thôi. Ở Cao Bằng những truyện ngắn xuất hiện vào những năm 60 mươi của thế kỷ trước thường dùng lối kể chuyện dân gian này nên truyện có lúc dễ dãi, đơn điệu, nhàm chán, ít tạo sự đột biến. Thái độ nhân vật hay tình huống truyện đều diễn biến theo ý chủ quan của tác giả mà bỏ qua và không tôn trọng sự vận động đời sống nội tại của nhân vật. Do vậy tác phẩm đầy rẫy những yếu tố ngẫu nhiên, thiếu sức thuyết phục. Ngày nay, các tác giả đã viết khác. Họ đã biết khắc phục những nhược điểm của lớp cầm bút đàn anh. Nhờ biết kết hợp giữa tả và kể họ đã làm cho truyện ngắn Cao Bằng có những bước tiến đáng kể. Các nhân vật trong truyện được tác giả mổ xẻ, phân tích thế giới nội tâm khá kỹ. Có thể lấy đoạn văn sau đây của tác giả Nông Quốc Lập làm ví dụ: “Ngày Quắn lên nương làm đất trồng ngô, khoai, sắn. Chiều tối, Quắn lên núi lấy củi đem ra chợ Pò Tấu đổi lấy muối, gạo”. Hay là: “Gánh nặng đè lên vai mỗi ngày, hai bắp thịt trên vai Quắn chai sần đỏ au như miếng thịt bò hơ lửa” (truyện ngắn Rừng thiêng thăm thẳm). Ở truyện Tiếng kèn A Pá, nhà văn Triều Ân đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa tả và kể: “Cậy mình là anh, nên A Châu nói một, A Pá nói mười. Hai anh em chốc chốc lại to tiếng, xong lại im lặng nhìn núi nhìn mây. Nhưng rồi A Pá cũng nói được cho A Châu biết những ngày đã qua bay đi theo tiếng gà gáy trưa, theo những mùa hoa núi ấy”. Và cũng như vậy ở truyện ngắn Vàng Vẫn Là Vàng, nhà văn Đoàn Lư đã sáng tạo những câu văn sinh động, giầu hình ảnh, gần gũi với ngôn ngữ đời thường: “Bà Oanh tay phải chống nạnh, tay trái vung vẩy, xỉa xói, luôn mồm xỉ vả Hiền. Những thứ hôi hám bẩn thỉu bà đều đem ra áp dụng”. Hoặc như: “Bà Oanh giật mình quay lại. Bà không tin đó là thằng Cương, con trai bà. Nó nói là đi nước ngoài công tác sao giờ lại lù lù đứng sau lưng bà. Mọi toan tính thâm hiểm của bà như vậy coi như là đổ bể”

Trong truyện ngắn Trăng gần, Hữu Tiến bằng sự kết hợp kể và tả đã khắc họa sự giận dữ của nhân vật Thùng Chòi vừa từ chiến trường trở về, nghe tin vợ mình đã có con với người đàn ông khác một cách cô đọng, sắc nét: “Nghe thầy cúng kể, lòng Thùng Chòi như nồi nước đang sôi. Một tay cầm súng, một tay cầm đuốc, anh bổ lên rừng như mũi tên lao vào con thú”. Để diễn tả sự độ lượng, lòng vị tha của Thùng Chòi tác giả cũng áp dụng thủ pháp vừa nêu ở trên như sau: “Thùng Chòi nâng khẩu súng nhằm vào bầu vú đang căng của Mùi Nái. Nhưng thật lạ kỳ, tâm trí anh bỗng ngân vang khúc hát Páo Dung. Khúc hát ngọt ngào tựa dòng sữa đang chảy từ bầu vú căng tròn của Mùi Nái. Không, anh không thể bắn vào dòng sữa kia được”.

Để lột tả nội tâm của nhân vật Tu (truyện ngắn Bên dòng Huổi Bốc) nhà văn Đoàn Ngọc Minh đã vừa tả vừa kể như sau: “Từ ngày A Nâm ẵm con bỏ đi, Tu lang thang khắp nơi tìm vợ. anh đến tất cả những nơi A Nâm từng đến, hỏi bất kỳ người nào quen A Nâm. Nhưng anh vẫn không biết vợ con ở phương trời nào. Tu trở nên ngớ ngẩn, ăn nói vẩn vơ. Gặp ai cũng túm áo lại gọi Nâm ơi rồi phá kên cười như điên dại”. Qua đoạn văn này người đọc dễ dàng hình dung được diễn biến tâm lý của Tu vì thương nhớ A Nâm mà hóa điên, hóa dại.

Ưu điểm của lối trần thuật kết hợp này làm cho tác giả thuận lợi trong việc tỏ thái độ đối với nhân vật. Khen hay chê. Yêu hay ghét. Ủng hộ hay đả phá đều nằm trong câu chữ, giọng điệu của tác giả. Chúng ta hãy cùng đọc một đoạn văn của Nông Quốc Lập trong truyện ngắn Màu hoa tình yêu: “Nó im lặng tận hưởng dư vị bài thơ. Anh Trình nói lên được tâm trạng của nó, như đi được vào giấc mơ của nó, nó không thể ngờ anh Trình lại làm được một bài thơ có ý, có tứ như thế. Nó đã từng vui từng đau khổ nhưng dòng thơ trong nó vẫn không chịu chảy ra thành lời”. Ở đoạn văn này, tác giả hoàn toàn đứng về phía nhân vật. Nắm chắc diễn biến tâm lý nhân vật. yêu thương quý trọng nhân vật bằng những lời lẽ chia sẻ, cảm thông.

 

Đan xen giữa lời người trần thuật và lời nhân vật

Đây là đặc điểm rất mới của truyện ngắn Cao Bằng. Từ sau năm 1986 một số tác giả mới dè dặt sử dụng thủ pháp đan xen này. Thủ pháp này loại bỏ hoàn toàn lời chỉ dẫn của người trần thuật. Không còn kiểu thoại gạch đầu dòng nữa. Đó là những câu văn ngắn dài khác nhau liền mạch, cô đọng mà người đọc không thấy sự xuất hiện của người trần thuật. Thực ra với kiểu đan xen này người trần thuật đã lặn vào thế giới nội tâm của nhân vật. Bắt nhân vật phát ngôn theo ý của mình. Trong truyện ngắn Ngày xưa, Hữu Tiến đã sử dụng thủ pháp này: “Trước khi ăn, Tần nắm một cục cơm và một miếng cá nướng ra đặt bên gốc cây to cạnh lán. Vi hỏi sao lại làm như thế. Tần bảo cúng thần rừng. Không cúng thần tự ái sẽ hóa phép làm mưa gió dọa người. Vi hỏi Tần đã gặp bao giờ chưa. Tần chưa gặp nhưng bố Tần đã gặp… Nghe xong Vi bảo đấy chỉ là ảo giác. Tần không biết ảo giác là gì nhưng bố dặn thế. Tần làm theo. Đơn giản vậy thôi”. Nhà văn Cao Duy Sơn cũng dùng lối kể đan xen này trong truyện ngắn Khách đường xa:Toàn đồn bậy, thằng này ngựa quen đường cũ, nó đã bị bắt tống tù vì tội lừa đảo, móc túi ở bến xe”. Có người hỏi: “Bến nào?”. Lão đáp: “Đường xa, cũng thuộc loại anh chị có hạng, từ Hải Phòng , Bến Nứa, Thái Nguyên, Cao Bình. Chỗ nào cũng có mặt nó. Công phu lắm mới bắt được”. “Bắt tận tay khi nó đang xoáy chứ?”. “Không cần, thằng này tiền án, tiền sự đủ cả, thanh niên như nó bây giờ là ở chiến trường chứ đâu có lén lút thậm thụt nơi bến tàu, bến xe. Cứ bắt là trúng, không cần chờ có quả tang”. “Đúng thế”. Ở đây tác giả không minh họa nhân vật bằng cử chỉ hành động nhưng người đọc vẫn hình dung được giọng nói, kiểu cách và thái độ của nhân vật Lâm. Và nhân vật đứng ở ngôi thứ ba cũng hiện lên sắc nét thông qua phát ngôn của nhân vật Lâm. Như vậy qua lối kể kết hợp này, nhà văn đã tạo ra hiệu quả kép khá thú vị.

Cách kể chuyện trộn lẫn như thế đã làm cho câu truyện bớt rườm rà đi rất nhiều. Nhiều trường đoạn trong truyện được giản lược nhưng không vì thế mà rời rạc, đứt nối. Ngược lại nó làm cho người kể chuyện khắc họa tính cách nhân vật một cách dễ dàng hơn. Tác giả không cần phải lao tâm khổ tứ dựng chân dung thật kỹ lưỡng người đọc vẫn cảm nhận được mọi sắc thái tình cảm nhân vật. Tốc độ truyện được đẩy nhanh phù hợp với gu thưởng thức của bạn đọc, nhất là đối tượng độc giả trẻ tuổi hiện nay. Nội tâm của nhân vật được bộc lộ bằng những lời nửa như đối thoại nửa như độc thoại, nửa của người trần thuật và nửa của nhân vật. Tóm lại đây là cách kể chuyện đa thanh, các tầng thời gian trong truyện được tác giả khéo léo xắp xếp theo một trật tự nhất định nên làm cho người đọc dễ dàng tiếp nhận. Đồng thời nó làm cho thế giới nội tâm nhân vật trở nên đa chiều, sâu sắc và gần với đời sống thường ngày hơn.

*

Trên đây là một số đặc điểm chính của truyện ngắn Cao Bằng sau hơn nửa thế kỷ hình thành và phát triển. Ngoài những đặc điểm mà chúng tôi vừa trình bầy ở trên, thỉnh thoảng trong một vài truyện ngắn của một số tác giả xuất hiện lối trần thuật mang tính hài hước, suồng sã. Tuy nhiên đó mới chỉ là hiện tượng nên chúng tôi không phân tích, dẫn giải ở đây.

Hơn nửa thế kỷ, nhờ nỗ lực không mệt mỏi của nhiều thế hệ cầm bút, truyện ngắn Cao Bằng ngày càng phong phú về nội dung, đề tài cũng như nghệ thuật kể chuyện.

Hữu Tiến

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại