Người xếp sỏi xây ngôi đền thi ca cho riêng mình
26-10-2015 10:55

Sau khi đọc phần lớn các tập thơ và trường ca của nhà thơ Hoàng Trần Cương và mới đây nhất tập là tập “bầu trời, đất(1), buộc tôi phải chọn một cái tên bài viết như thế. Thoạt nghe có vẻ hơi lạ tai, nhưng thật sự tôi không thể tìm được cụm từ nào khả dĩ hơn nói lên một công việc đầy vất vả, cực nhọc, nhưng lại đòi hỏi sự cẩn trọng và tinh tường trong quá trình sáng tạo thi ca của nhà thơ xứ Nghệ này.

Nhà thơ - Chiến sĩ

Nhà thơ Hoàng Trần Cương sinh năm 1948 ở làng Đặng Lâm, xã Đặng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Lên 7 tuổi, cậu bé Cương theo bố ra Hà Nội học. Đến cấp II, Hoàng Trần Cương lại quay về học ở quê. Sau đấy ông theo cha lên huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh học cấp III. Có lẽ vì thế mà Hoàng Trần Cương có một tuổi thơ “quăng quật”, khiến ông mang trong mình đặc tính của cả ba dòng sông là sông Lam, sông Hồng và sông Cầu. Trong tính cách của mình, Hoàng Trần Cương luôn bị hồn vía của các dòng sông này ám thị như ma chơi. Sông Lam đã cho ông sự quyết liệt và ý chí quật cường của người miền Trung. Sông Hồng đã bồi đắp cho ông tầng tầng, lớp lớp phù sa mỡ màu và trí thông minh, còn sông Cầu, quanh năm nước chảy lơ thơ và có các làng Quan họ để cho ông ngồi tựa mạn thuyền mà mộng mơ rồi thả lên trời xanh những vần thơ hào hoa và tinh tế của tâm hồn người Kinh Bắc.

Trong một lần trả lời báo chí, nhà thơ Hoàng Trần Cương từng chia sẻ đại ý là, hồn thơ của ông là sự tiếp nhận vô thức của đời sống, cảm xúc, thi ảnh của những năm tháng thơ trẻ. Đối với ông, những dấu ấn tuổi thơ là thứ được lưu giữ vĩnh viễn trong tâm hồn. Còn những năm tháng sau này chỉ là sự bồi đắp. Những người làm thơ thì không bao giờ thoát ra khỏi những ám ảnh quá khứ và ông cũng vậy. Ông đã từng bị cuộc đời quăng quật xuống tận đáy theo đúng nghĩa đen của từ này. Chính điều đó đã tạo nên tính cách con người cũng như thi pháp thơ của ông.

Đang học năm thứ 4 Đại học Tài chính, Kế toán, Ngân hàng chàng sinh viên Hoàng Trần Cương viết đơn xin nhập ngũ. Ông vào làm lính của Sư đoàn 367 pháo cao xạ, đơn vị Anh hùng. Ông từng tham gia chiến đấu tại các chiến dịch Bản Đông (Đường Chín- Nam Lào) và các mặt trận phòng không phía Bắc. Trong một trận đánh ác liệt, Hoàng Trần Cương bị thương và phải về Quân y viện tiền phương điều trị. Khi vết thương còn chưa lành hẳn, ông cầm trong tay giấy chứng nhận thương tật và đã cùng đơn vị tham gia giải phóng Quảng Trị. Sau đấy đơn vị ông được cấp tốc điều ra Lạng Sơn để canh giữ cửa ngõ phía Đông Bắc của thủ đô Hà Nội trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không năm 1972. Tháng 3/1975, Hoàng Trần Cương cùng đơn vị tiến về giải phóng Sài Gòn. Có lẽ vì thế mà nhiều người cho rằng ông là lính của những chiến dịch lớn. Ngẫm ra, tôi thấy có lý. Vì dường như những chiến dịch quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ông đều có mặt, tham gia với tư cách là một người lính trận, nguyên chất. 

Sau chiến tranh, Hoàng Trần Cương được cử đi học Trường viết văn Nguyễn Du cùng với các nhà văn, nhà thơ như Hữu Thỉnh, Nguyễn Trí Huân, Khuất Quang Thụy, Nguyễn Đức Mậu... Tập trung lớp tại Vân Hồ, Hà Nội được vài ngày, ông quyết định chuyển sang học nốt năm cuối Trường Đại học Tài chính, Kế toán, Ngân hàng. Tốt nghiệp, ông về làm Kế toán trưởng của báo Nông nghiệp Việt Nam, rồi làm chuyên viên cao cấp, công tác tại Bộ Tài chính. Trước khi nghỉ hưu, ông làm Tổng biên tập Thời báo Tài chính Việt Nam.

Người xếp sỏi xây ngôi đền thi ca cho riêng mình - ảnh 1
Nhà thơ Hoàng Trần Cương và tập thơ "bầu trời, đất"

Vừa chiến đấu, Hoàng Trần Cương vừa viết báo, truyện ngắn, ký và làm thơ. Đến nay ông đã cho xuất bản khoảng trên chục tập sách và nhận được nhiều giải thưởng gồm: Giải A cuộc vận động viết về đề tài lực lượng vũ trang 1970-1972 của Tạp chí Văn nghệ Quân đội cho ký sự Hạnh phúc hôm nay; Giải nhất cuộc thi thơ của Tuần báo Văn nghệ- Hội Nhà văn Việt Nam (1989-1990) cho trích đoạn trường ca Trầm tích và chùm thơ ngắn; Giải thưởng văn học- nghệ thuật về đề tài lực lượng vũ trang - chiến tranh cách mạng và sự nghiệp bảo vệ tổ quốc 1994-1999 của Bộ Quốc phòng cho trường ca Trầm tích; Giải thưởng văn học năm 2000 của Hội nhà văn Việt Nam cho trường ca Trầm tích; Giải đặc biệt về văn học- nghệ thuật Hồ Xuân Hương (1997-2002) của UBND tỉnh Nghệ An cho Trường ca Trầm tích. Giải Bông lúa vàng 1980-2010 của Hội Nhà văn và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng dành cho trường ca Trầm tích. Trong Ngày hội sách Việt năm 2015 vừa qua, nhà thơ Hoàng Trần Cương đã nhận được giải thưởng Sách hay cho cuốn Hoàng Trần Cương- Thơ và Trường ca do Hội xuất bản và Bộ Văn hóa- Thể thao- Du dịch tổ chức và trao tặng. Như vậy chỉ riêng Trầm tích ông đã ẵm tới 6 giải thưởng khác nhau.

Trồi trụt (2) những hòn sỏi ngôn từ nhẵn thín

Điều mà nhiều người từng đọc thơ Hoàng Trần Cương rất dễ nhận ra đấy là sự rắn rỏi, trồi trụt đến rớm máu toát lên từ những câu chữ xù xì góc cạnh, giàu đường nét và phong cách riêng của con ngư ời ông. Không ít người bảo đọc hoặc nghe Hoàng Trần Cương đọc thơ là rất khó và rất mệt, xem ra cũng có lý.

Trong tập thơ Dấu vết tháng ngày, ở bài Đợi, năm 1992, ông từng viết: Mặt anh buồn như đá/ Ai vứt ra ngoài đồng. Và rồi 23 năm sau, trong Bầu Trời- Đất, ở bài Chiếc gối, năm 2015, ông lại viết:

Anh quấn mặt vào đêm

Và tự nhấc ngày mai kê lên làm gối...

Chỉ cần đọc những câu thơ trên, người tinh ý sẽ không quá khó để nhận ra sự chuyển dịch trong tính cách con người và phong cách thơ của Hoàng Trần Cương. Trước đây, ông chờ đợi một điều gì đấy mãi mà không thấy. Nỗi chờ đợi ấy đã hóa đá khuôn mặt ông như thể Nàng Vọng Phu chờ chồng thưở nào trong truyện dân gian. Chỉ khác là Nàng Vọng Phu chờ chồng đến hóa đá nhưng vẫn đứng yên đấy. Còn với Hoàng Trần Cương, khuôn mặt hóa đá kia lại bị ai đó vứt ra người đồng. Nghĩ mà ghê!

Nhưng ở bài Chiếc gối, thì dường như ông đã tìm ra được cách hóa giải cho nỗi buồn nhân thế luôn ẩn hiện trên gương mặt của người thơ bằng cách quấn nó vào đêm. Đây không phải là một thái độ bất cần đời, mà lại là một cách vượt thoát tích cực vì mọi lo toan, bấn loạn ông dành cho ngày mai, cho thế hệ tương lai đảm trách, nên ông tự nhấc ngày mai kê lên làm gối mà ung dung trước mọi bon chen, nhiễu nhương của sự đời.

Thời gian có thể thay đổi, nhưng cùng lắm cũng chỉ làm cho cái rắn rỏi, trồi trụt ấy mềm mại hơn đôi chút, chứ không hề làm thay đổi phong cách thơ Hoàng Trần Cương, như là một sự mặc định từ bản thể con người ông. Và nếu có khác chăng chỉ là khác cái cách trước đây ông vác từng tảng đá hộc còn nhiều góc cạnh sắc nhọn, xù xì đến miền đất hoang vu chỉ rặt có gió Lào và đói nghèo miền Trung để tôn tạo nên nền móng vững chắc trước khi xếp những viên sỏi nhẵn thín xây nên ngôi đền thi ca cho riêng mình cao hơn, bề thế và cũng sang trọng hơn.

Một trong số những bài thơ có cấu tứ khá lạ, nhưng vẫn nằm trong đặc điểm tư duy thơ của Hoàng Trần Cương với những liên tưởng bất ngờ, thú vị. Bài Mưa và Trăng và Em được ông viết từ tháng 4/1993:

Mưa là trăng của ngày

Êm đềm bay mềm đá

Rải lụa là khắp ngả

Cưng nựng mùa héo hon...

Em là trăng của anh

Mọc xanh miền xói lở

Khuyết tròn vương thương nhớ

Chở hương về đó đây...

Trăng là mưa trắng đêm

Giăng thu vào cõi lặng

 Em là mưa cuốn nắng

Đưa anh về trời riêng.

Việc sử dụng bộ ba hình tượng Mưa- Trăng- Em đặt tên cho bài thơ được gắn kết một cách hờ hững bởi liên từ nối đã khiến người đọc không khỏi hoài nghi về cách lập tứ của nhà thơ.

Nhưng khi đọc kỹ, người ta lại thấy ba hình tượng trên cứ xoắn quện vào nhau, như một thực thể không thể tách rời, cái này ở trong cái kia và cuối cùng không biết cái nào ở trong cái nào sất. Đấy là một cách lập tứ cho bài thơ theo kiểu Hoàng Trần Cương. Nó chặt chẽ đến mức khái niệm tứ thơ theo cách hiểu thông thường đã bị vô hiệu hóa hoàn toàn và trở nên vô nghĩa, không tồn tại hay nói một cách chính xác tứ thơ của bài Mưa và Trăng và Em là không có tứ gì cả. Dù vậy người đọc vẫn có thể lĩnh hội được những tình cảm mà tác giả muốn gửi gắm ở bài thơ này.

Một trong những bài thơ hay mà tôi thích trong tập Bầu Trời- Đất, thể hiện khá rõ đặc điểm phong cách thơ của Hoàng Trần Cương là bài Ở ngoài đường:

Có lúc tự dưng bắt gặp mình

đứng ở ngoài đường

Không biết đi hay dừng

Lững thững trồi rồi trụt

Chợt thấy trái đất sững lại

Hình như sắp ngừng quay

Có chặn cản chi đâu

Sao gió máy cấu cào vào mặt

Cũng chẳng quét hót gì

Lũ bụi bặm

Lại chui vào mắt

Muốn về nhà quá

Mà mặt đường lại ngủng ngẳng trôi.

Một cảm giác không rõ ràng của người thơ. Đây đích thị là cảm giác của người chếnh choáng say. Nhưng cái chếnh choáng, ngây ngất ấy lại không hề hiện hữu nên không biết ông đang bị cái gì ám thị: thơ, tình yêu hay bia rượu, có thể là một, hai hay cả ba (!?). Dù là gì đi chăng nữa, thì chỉ có khi chếnh choáng say người ta mới tự dưng bắt gặp chính mình ở ngoài đường. Người thơ chếnh choáng say đến mức không biết hành động tiếp theo của mình là gì: đi hay dừng. Thậm chí có vẻ như đứng cũng không vững, nên chỉ thấy hết trồi rồi trụt và cảm thấy trái đất sững lại như sắp ngừng quay. Chỉ cần hai từ trồi trụt, người ta có thể nhận ra đấy là chữ của riêng Hoàng Trần Cương.

Thế nhưng, cảm giác gió máy cấu cào vào mặt, bụi bặm chui vào mắt lại là một cảm giác rất thực, không hề bị chi phối bởi sự chếnh choáng. Hai cảm giác thực và ảo đan xen lẫn lộn như vừa muốn hất tung người thơ lên không trung, lại vừa muốn níu chân anh ta ở lại với mặt đất này. Cảm giác này được đẩy đến một cao trào mới khi tâm trí, đầu óc người thơ rất muốn trở về nhà, nhưng con đường lại cứ ngủng ngẳng trôi. Đấy chính là cái sự trồi trụt trong tâm lý sáng tạo thi ca của Hoàng Trần Cương, mà không phải ai cũng có được.

Bài thơ khá đơn giản về cấu tứ, giọng điệu, ngôn ngữ, dễ đọc và dễ cảm nhận.

Nhưng đọc lên hẳn ai cũng dễ dàng nhận ra đấy là thơ của Hoàng Trần Cương bởi lằn ranh để khu biệt thơ ông với thơ của người khác chỉ nằm ở các từ trồi trụt, ngủng ngẳngsững lại. Chợt thấy trái đất sững lại, một câu thơ toàn thanh trắc, không hề có thanh bằng tạo nên cảm giác cộc lốc, chắc nịch, kết thúc đột ngột, làm cho nó bỗng tròn vo, nhẵn thín như hòn sỏi, tạo cho người đọc nhiều cảm xúc bất ngờ.

Một phong cách thơ đậm đặc chất Nghệ

Chỉ riêng ở tập Bầu Trời- Đất, với 45 bài, nhà thơ Hoàng Trần Cương đã 43 lần dùng từ, cụm từ, từ láy là những từ mà chỉ riêng người xứ Nghệ mới sử dụng trong ngôn ngữ đời sống và giao tiếp hàng ngày và mới hiểu một cách ngọn ngành, thấu đáo được sắc thái ngữ nghĩa của lớp từ vựng này. Như vậy, tính trung bình mỗi bài thơ, ông sử dụng một từ, cụm từ xứ Nghệ.

Có lẽ chỉ có mảnh đất miền Trung, xứ Nghệ quê ông toàn nắng, gió Lào và nghèo đói quanh năm mới sản sinh và lưu giữ được nhiều những từ, cụm từ mang đặc trưng vùng miền, khẳng định sự kiên cường bám trụ trước giông bão thiên nhiên và sóng gió cuộc đời của con người nơi đây đến như vậy. Có người bảo, những người không sinh ra, lớn lên và có thời gian dài sống lâu ở xứ Nghệ, mỗi khi đọc thơ Hoàng Trần Cương phải mang theo ít nhất hai công cụ là bộ giải nén và cuốn Từ điển Nghệ - Việt. Nếu không, chắc chắn sẽ bó tay hoặc chí ít cũng sẽ giảm đi đáng kể sự thú vị khi tiếp xúc văn bản thơ với cách cấu tứ, khúc thức, giọng điệu và nhiều câu chữ mang đậm chất phương ngữ trong các thi phẩm của ông.

Tôi tin rằng những từ, cụm từ như: rấm mộng, khẩy mỏ, thẳng thớm, trắng ngốt, hỉnh mũi, luội ngày, trồi trụt, sững lại, cớm chiều, láu liêng, lần khứa, mút mùa, đỏ rật, tứa mật, rúc về, lẳng luốt, nằm hóc, năm chằm tháng, gặm mút, chằm tay, phóc ra, túa lên, tròi lên, khô khắng, trật trầy, dông khỏi nhà, nhấc ngày,... sẽ có nhiều người không hiểu, hoặc hiểu rất lơ mơ, đại khái, thậm chí là hiểu sai nghĩa từ nguyên mà người xứ Nghệ tin dùng. Nếu như đặt những từ, cụm từ ấy vào một văn cảnh nào đấy của một câu hay toàn bài thơ người ta có thể hiểu được ý đại thể. Tuy nhiên để hiểu được sắc thái tu từ của chúng lại là một việc quá khó đối với không ít người.

Chẳng hạn như người xứ Nghệ trước đây nói là thẳng thớm thì người miền Bắc và tiếng Việt phổ thông thường nói và viết là thẳng thắn. Người xứ Nghệ thường nói tròi lên để diễn tả một cái gì đấy nhô lên một cách cực nhọc. Cũng tương tự như vậy, phóc ra là bật tung ra, trồi trụt là nhô lên, sụt xuống một cách khó nhọc, sững lại là đứng lại ngay tức khắc, lần khứa là chích từ từ theo kiểu cò cưa...

Tất nhiên đây là tiếng Nghệ cổ. Rõ ràng là chỉ có những người như Hoàng Trần Cương mới am tường những giá trị văn hóa cổ của vùng quê mình được biểu hiện qua lớp vỏ ngôn ngữ đời sống hàng ngày, nhất là đối với người già, thì mới hiểu và sử dụng được chúng một cách nhuần nhuyễn, tạo nên sắc thái riêng trong phong cách thi ca của ông. Đối với những người khác dù có muốn cũng rất khó sử dụng, chứ chưa nói đến việc sử dụng vào những vị trí đắc địa như Hoàng Trần Cương.

Do vậy, đọc và cảm thấu được thơ Hoàng Trần Cương là việc khó đối với không ít người. Bàn luận về nó cho ra đầu ra đũa lại là việc càng khó hơn. Nếu không hiểu thấu đáo ngôn ngữ văn bản thơ đậm đặc phương ngữ của Hoàng Trần Cương mà cứ tán bừa hay suy diễn theo cách hiểu chủ quan của mình chỉ có thể làm hỏng thơ ông và làm hại người viết mà thôi. Việc sử dụng phương ngữ giống như một con dao hai lưỡi. Nó là một thế mạnh của Hoàng Trần Cương để đem lại sắc thái, giọng điệu và lớp ngôn ngữ khác lạ cho tác phẩm thi ca, tạo nên sự hấp dẫn đối với người đọc. Tuy nhiên điều này lại không bao giờ là chuyện dễ dàng đối với nhiều người.

Điều quan trọng hơn lại nằm ở chỗ liều lượng sử dụng phương ngữ đến đâu là vừa đủ cho tác phẩm thơ vượt qua được sự phô diễn ngôn ngữ bản địa thông thường, để trở thành ngôn ngữ thi ca đích thực mới là sự phân định giữa một nhà thơ có bản lĩnh và tài năng thực thụ và những người bình thường khác làm thơ. Xét ở khía cạnh này, Hoàng Trần Cương là một người rất có ý thức và tài năng sử dụng phương ngữ, mà trên thi đàn Việt đương đại không có nhiều người được như ông.

Thành công lớn của Hoàng Trần Cương rất đáng ghi nhận là ở chỗ ông đã biết tiết chế cảm hứng nguồn cội trong quá trình tạo tác văn bản thơ, vừa đủ để tạo nên đặc trưng thi pháp, tăng hiệu ứng tương tác của người đọc khi tiếp cận văn bản thơ của ông thông qua việc sử dụng một cách khá nhuần nhuyễn phương ngữ xứ Nghệ. Một ví dụ cụ thể, bài thơ Bóng lẻ:

Ráng chiều

Đẩy phố vào đêm

Một người

Ngồi đợi trăng lên ướt trời

Tìm ai

Gió gọi mỏi lời

Cô đơn đóng cọc

Rọc đôi bóng mình.

Đây là bài lục bát hiếm hoi và hay của Hoàng Trần Cương. Khúc thức được thay đổi bằng cách ngắt nghịp, chia câu thơ thành nhiều đơn vị khác nhau, tạo cảm giác mới lạ cho người đọc. Việc đổi mới cách sử dụng ngôn ngữ thơ được ông đặc biệt chú ý qua các cụm từ: ướt trời, cô đơn đóng cọc, rọc đôi bóng mình. Trong số các cụm từ mới lạ nói trên, duy chỉ có động từ rọc là mang đậm chất Nghệ nhất. Động từ rọc (không phải là tính từ dọc trong cụm từ ghép không cố định dọc ngang- Chọc trời khuấy nước mặc dầu/ Dọc ngang nào biết trên đầu có ai- Nguyễn Du, Truyện Kiều), có thể thay bằng các động từ tương ứng trong kho từ vựng tiếng Việt phổ thông như: tách, toác, xẻ, chẻ, chia, cắt, chặt, chém, phân, bổ, băm, bửa,... Nhưng nếu thay bằng một trong các từ này vào thì câu thơ trên sẽ không còn sắc thái tu từ mang đặc trưng xứ Nghệ nữa. Thực ra từ mang đậm sắc thái tiếng Nghệ An nhất phải là động từ bửa. Tuy nhiên từ này lại khá thô, không hợp với độ tinh tế và chất giọng thơ của Hoàng Trần Cương. Có lẽ vì thế mà người thơ không tin dùng (!?).

Và cả bài thơ tác giả cũng chỉ duy nhất một lần sử dụng phương ngữ vào chỗ đắc địa nhất, vì nó được đặt ngay sau đơn vị câu thơ cô đơn đóng cọc, tạo nên âm hưởng gọn gàng, đầy sức gợi. Tài sử dụng phương ngữ của Hoàng Trần Cương kết hợp với sự ngắt nhịp câu bát rơi vào đúng hai từ có kết thúc bằng âm vần ọc làm cho câu thơ chắc khỏe, dứt khoát mà vẫn đảm bảo được độ tinh tế vốn có theo đúng phong cách thơ của ông.

*

Đối với không ít người, làm thơ là một thú tiêu dao tao nhã của kẻ sĩ. Người ta chỉ làm khi nào có hứng và hoàn toàn tự do về cả tinh thần lẫn thể chất. Nhưng với nhà thơ Hoàng Trần Cương, dường như từng ấy là chưa đủ. Ông làm thơ còn là một cuộc hóa sinh đầy cực nhọc và linh diệu. Dường như ông sinh ra như là để mắc nợ với cuộc đời, nên buộc phải đem hết sức lực ra để cày xới trên cánh đồng chữ nghĩa, ngõ hầu trả lại cho cuộc đời này một cái gì đấy như một mặc định trong bản thể con người ông./.

Đỗ Ngọc Yên

------------------------------

(1) “Bầu Trời- Đất”- Thơ Hoàng Trần Cương, Nxb Hội Nhà văn, H, 2015

(2) Chữ dùng của Hoàng Trần Cương trong bài thơ “Ở ngoài đường”

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại