Nhà văn của những phận nghèo và trẻ nhỏ
13-09-2015 05:08


Năm 2014, Phạm Thị Bích Thủy cho ra mắt tập truyện ngắn Chạy trốn và tiểu thuyết Đồi cát bay. Khi giới thiệu tập Chạy trốn trên báo Văn Nghệ trẻ, chúng tôi đã dự cảm tác giả có vốn sống phong phú và có kĩ thuật nghề nghiệp cao, có thể sẽ đi xa trên con đường sáng tạo. Tiểu thuyết tiếp theo Đồi cát bay đã minh chứng điều đó và bây giờ tiểu thuyết Tiếng sáo lạc với 13 chương hoàn thành từ giữa năm 2014, xuất bản quý 3/2015 lại càng khẳng định dự cảm đó.

Nhìn xuyên suốt ba cuốn sách mà tác giả đã công bố, thấy nổi lên mối quan tâm nhất của người viết chính là những phận nghèo và trẻ nhỏ. Đó không chỉ là mối quan tâm, còn là nguồn cảm hứng, cũng là chỗ mạnh của cây bút nữ được chuẩn bị khá kĩ lưỡng.

Ba truyện ngắn về nông thôn trong tập Chạy trốn là “Thằng Tê”, “Chạy trốn” và “À í a…” tác giả đã viết về cái nghèo của làng quê, của nông thôn một cách thấm thía, cảm động. Những nhân vật ấn tượng là những đứa trẻ. Đó là thằng Tê, thằng Nhất, cái Phúc, con Na… Đến tiểu thuyết Đồi cát bay thì những phận nghèo được khắc họa sâu sắc. Cái nghèo ở một khu du lịch đẹp bậc nhất Việt Nam. Hai nhà nghèo làm người đọc bức bối, ngột ngạt và ngậm ngùi là nhà mẹ của thằng Út Lớn và nhà của bà hai Ù, bà ngoại của cái Bàu. Ấn tượng ám ảnh người đọc chính là việc “họ nghèo quá, họ không được học hành nên họ không biết cần làm sạch thế nào và cũng không cần thấy phải làm sạch”. Và những nhân vật quan trọng nhất của tiểu thuyết Đồi cát bay chính là những đứa trẻ thất học, ngày ngày đi cho thuê tấm trượt với cuộc sống vất vả, nhọc nhằn, nghèo nàn, tăm tối.

Trong Đồi cát bay, tác giả đã chú ý đến đằng sau vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên, của những nhà hàng, cửa hiệu lấp lánh sáng là “những căn nhà nghèo nàn lợp lá, lợp tôn, ngược xuôi lúp súp, nhấp nhô trên những cồn cát đỏ - nhà của những người nông dân, ngư dân”. Bây giờ trong tiểu thuyết “Tiếng sáo lạc” tác giả viết về Hà Nội, nhưng không phải là những tòa nhà cao ngất, những cửa hiệu sáng trưng, mà là một Hà Nội khác. Đây là Hà Nội của những người nghèo. Hà Nội của những con ngõ “không có ánh sáng, sâu hun hút, những nhà bé tí, dựa vào nhau thò ra thụt vào bám chặt vào mặt con ngõ, không có một khoảng hở nào để nhìn thấy được một tí trời” (trang 101). Hà Nội của người nghèo như vợ chồng Thành, Dung, anh Mễ, và những công nhân xây dựng, người tứ xứ dạt về, “tất cả đều đang lẳng lặng sống, lẳng lặng làm đủ mọi loại công việc”. Trong những nhân vật quan trọng của tiểu thuyết này, vẫn có những đứa trẻ. Đó là thằng Hạnh con của Thành và Dung, cu Tròn (thằng Phúc) con do Dung đẻ thuê, và thằng Thừa bạn đánh giày của thằng Hạnh. Bên cạnh còn có thằng Kình, thằng Hạch cũng làm việc đánh giày.

Thành và Dung không phải là những người nông dân thuần túy. Cả anh và chị đều đã học hết phổ thông. Không chịu nổi sự nghèo khổ của nhà quê, hai người đã “liều” ra thành phố mong đổi đời. Thật sự, nếu so sánh với cuộc sống ở thôn quê mà hai người từng trải thì dù phải ở trong lán thuê ổ chuột, dù phải làm việc phụ hồ, nấu cơm cho thợ thì cả hai đều thấy “Đúng là Hà Nội sướng thật!”. Nhưng rồi Dung mang thai thuê, cô được người ta trả cho đến năm mươi triệu, lại được ăn uống, tẩm bổ nên cô thấy cái sướng của vợ chồng mình khi mới ra thành phố… vẫn là quá khổ. Cô đã nghĩ về thân phận những người nông dân “Hóa ra họ- những người nông dân như Dung, như Thành và bao nhiêu người nông dân quê Dung, bao nhiêu người nông dân khác không được biết thế nào là sống cả. Họ đã lao động và làm việc quần quật suốt cuộc đời để rồi luôn sống một cuộc sống nghèo đói, túng quẫn, ăn đói, mặc rách và ở trong những điều kiện khốn khó cùng cực nhất, áo quần không ra áo quần, giường chiếu không ra giường chiếu, nhà hóa ra không phải là nhà. Dung thấy cay đắng” (trang 121). Và cô đã mong cuộc sống sướng hơn bằng cách dứt khoát bỏ chồng con, đi lao động nước ngoài. Rồi vì ham lợi, bị trục xuất về nước với hai bàn tay trắng.

Vấn đề là không phải làng quê nào cũng như làng quê của Thành và Dung. Không phải người nhà quê nào ra thành phố cũng chịu một kết cục bi thảm là cái chết vì tai nạn lao động như Thành. Không phải ai đi nước ngoài lao động cụng bị trục xuất tay trắng như Dung, hoặc trở về nhếch nhác, khổ sở như đám thợ đi làm ở Anggola về mà Dung gặp “vẫn mặc y chang quần áo cũ, vẫn còn đi dép tổ ong”. “Họ tha lôi đồ xách tay là những túi ni lông nhàu nhĩ, cáu bẩn, buộc bằng những sợi dây nhựa chằng chịt. Họ mặc những chiếc sơ mi cũ kĩ màu cháo lòng, có người thì mặc áo kiểu bảo hộ lao động ở công trường xây dựng, có người mặc hai ba chiếc áo chồng lên nhau vì cô thấy hai ba lớp cổ áo nhô ra, thụt vào. Họ có nhiều những cái túi lắt nhắt như vậy quá nên chật cả khoang phía trên ghế ngồi của họ” (trang 179). Có không ít người nghèo ở quê ra phố đổi đời nhờ chịu khó nhặt đồng nát, làm ô sin, hoặc làm những công việc vất vả khác. Có biết bao người nhờ xuất khẩu lao động mà đổi đời mình, đổi đời cho những người thân. Vậy thì tại sao nhà văn lại chọn Thành và Dung, lại chọn những người đi Anggola, mà không chọn những người khác? Liệu Thành và Dung có phải là số đông, là phổ biến cho tất cả những người nhà quê ra thành phố? Liệu mấy người đi về trên máy bay Dung gặp ngẫu nhiên có thể đại diện cho nhiều người Việt đang làm việc ở Đài Loan, Hàn Quốc, Malaixia, Libi, và một số nước châu Phi?

Chúng tôi nghĩ rằng nhà văn nữ này không quan tâm lắm đến cái gọi là tính chất đại diện hay điển hình. Chắc chắn là trong nhiều người nhà quê ra phố, có những người như Thành và Dung. Chắc chắn có những người đi xuất khẩu lao động nhếch nhác, khổ cực như một số người Dung gặp trên máy bay. Và hẳn nhiên, có các chú nhỏ đánh giày như thằng Thừa, thằng Hạnh thất học. Nếu trong cuộc đời này, họ tồn tại và làm việc âm thầm, lẳng lặng, họ không là số đông, nhưng họ tồn tại thì họ xứng đáng được đề cập đến trong những trang viết. Nhà văn Phạm Thị Bích Thủy đã gặp họ ở những góc khuất của cuộc sống. Chị nhạy cảm với cái nghèo, cái cơ cực và đặc biệt nhạy cảm với những trẻ em. Nhất là những đứa trẻ thất học, đánh giày. Chị đã chọn họ hay chính họ đã chọn chị để xuất hiện.Trong tiểu thuyết này, những trang đặc sắc là trang viết về Chân đất - Hạnh, thằng Thừa và cu Tròn.

Có thể liên tưởng về hình ảnh tượng trưng trong hai tiểu thuyết của Bích Thủy. Trong Đồi cát bay, những đứa trẻ lấm láp, thất học và cha mẹ chúng chỉ như những hạt cát bị cuốn xoáy vào cuộc đời luẩn quẩn nghèo nàn, thất học, không có học nên lại càng nghèo nàn, bế tắc. Còn ở “Tiếng sáo lạc” thì những con người từ quê nghèo dạt lên thành phố cũng tựa như là một tiếng sáo lạc lõng chỉ cất lên trong đêm. Tiếng sáo đó “giữa đêm mùa đông nó như một lưỡi dao âm thanh, nó mỏng, nó sắc, nó cắt ngang tim người nghe, nó đơn độc, nó mong manh, nó lặng ngắt giữa thành phố sáu triệu người ồn ã” (trang 22). Tiếng sáo đó của Thành cất lên trong công viên, thì chỉ có thằng Hạnh- thằng đánh giầy Chân đất nghe thấy. Rồi khi Thành chết, thằng Hạnh lại tiếp nối bố mà thổi sáo. Cái điệu bèo dạt mây trôi nói về nỗi mong manh, trôi nổi của kiếp người. Để rồi Dung, mẹ nó từ nước ngoài về chợt nhớ đến Thành chồng cũ, đến con trai. Những nhân vật thoáng qua như Hưng, anh Mễ, cũng là những tiếng sáo lạc. Người đàn bà có biệt danh mà thằng Hạnh đặt cho là bà ma đen làm nghề đồng nát kiêm mại dâm “ai cho bao nhiêu cũng được” cũng là một tiếng sáo lạc giữa cuộc sống chốn thị thành. Và ngày cả cô Toan, cô gái được học hành tử tế, được làm trong nhà khách quân đội, tự cho là đảm đang, tháo vát, là “cô Tấm ngày nay” cũng thành một tiếng sáo lạc khi mọi toan tính của cô đều là tìm chỗ dựa, tìm cách trở thành bà chủ, có của nả riêng đứng tên mình.

Nhà văn của những phận nghèo và trẻ nhỏ - ảnh 1
Bìa tiểu thuyết


Có thể nói tiểu thuyết được viết chặt chẽ, lớp lang với một kĩ thuật khá nhuần nhuyễn. Đặc biệt là ngôn ngữ của các nhân vật trẻ em, ngôn ngữ của nhóm làm thuê về từ Anggola. Về lớp lang, có thể thấy, chẳng hạn tiếng sáo ở đầu sách và tiếng sáo ở cuối sách gợi cho Dung nhớ chồng, con. Cái vết chàm đen mà cu Tròn phát hiện là bẩn ở cổ Hạnh, chính là để sau này Dung nhận ra con trai mình là Hạnh trong tai nạn bất ngờ. Và anh chàng Tưởng trí thức cận thị, người đầu tiên Toan lừa trả tiền áo diện, sau đó đã đến ngủ với Toan khi Việt đi Sài Gòn, sau này chỉ xuất hiện với cái tên kính trắng khi Toan đã gá nghĩa với ông Cần. Việc Dung gây nên cái chết của Hạnh và làm cu Phúc cũng bị thương nặng… là một kết thúc để lại ấn tượng mạnh.

Tuy nhiên, có thể thấy một nhược điểm lớn của tác giả nữ này, chị đã không kìm được sự khách quan khi miêu tả. Tôi không muốn tác giả gọi Dung là “ả”, một cách gọi miệt thị, dù Dung có xấu đến đâu chăng nữa. Mặt khác Dung nói rằng Dung chỉ muốn mượn thằng Tròn để làm xét nghiệm AND cho các con ông Cần. Những đứa con ông ấy có ngu gì mà phải đợi đến sự giúp đỡ của Dung, trong khi chúng còn mò đến tận nhà Toan, bắt quả tang Toan ngoại tình với kính trắng? Lại nữa nhà văn quên rằng nhân vật của mình đã hết phổ thông trung học. Thế mà Thành nghĩ về phương Nam “ở đó nghe nói có thành phố to hơn Hà Nội gọi là Sài Gòn”. Đấy là ý nghĩ của một thanh niên mù chữ chứ không phải của người hết cấp 3. Điều khiến nhiều người ngạc nhiên là sự miêu tả cẩu thả này: “Đêm nằm ôm thằng Hạnh, nước mắt Thành cứ lăn ra rơi lộp độp xuống cái quần bò cũ Toan cho Dung” (trang 117). Hình như thế chưa đủ gây ấn tượng chăng, ngay trang sau, tác giả lại tả: “Nước mắt cứ lăn ra lộp cộp” (trang 118).

Phải chăng tôi là người khó tính, khe khắt, vụn vặt? Có thể. Nhưng vì có ấn tượng tốt với tác giả, với thành công của tiểu thuyết nên cứ phải nói ra. Đúng hay sai thì bạn đọc sẽ phán xét!

Hà Nội, 21/7/2015

Vũ Nho

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại