Niềm tin vào ngày toàn thắng trước những đau thương
24-07-2015 10:45



Trong các cuộc trường chinh của dân tộc, bên cạnh những chiến công hiển hách không thể không nhắc đến những hi sinh tổn thất. Đó là cái giá của máu xương phải trả để giữ vững từng tấc đất của cha ông. Tuy nhiên, ở mỗi thời điểm lịch sử, với quan niệm, ý thức hệ lại có cách nhìn khác nhau về những mất mát đó. Để rồi mỗi khi đến ngày tưởng niệm công lao của các liệt sĩ, chúng ta lại cùng chiêm nghiệm về điều đó.

Trước cái chết của những người nông dân - nghĩa sĩ đất Cần Giuộc, nhà nho Nguyễn Đình Chiểu trân trọng “tiếng vang” của sự hi sinh đó (mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao; một trận nghĩa đánh Tây, thân tuy mất tiếng vang như mõ - Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc). Tuy nhiên, trong các cuộc kháng chiến, dưới ánh sáng soi đường của sự lạc quan cách mạng, nhận thức ấy được nâng lên thành niềm tin vững vàng vào chiến thắng.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ mới ra đời với bao khó khăn, thiếu thốn, sau 9 năm gian khổ đã đánh đuổi được thực dân Pháp ra khỏi bờ cõi bằng đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy địa cầu”. Nhưng, để đến được với ngày thắng lợi cũng có biết bao sự hi sinh. Đó có thể là cái chết thầm lặng của một người chiến sĩ:

Hôm qua còn theo anh 

Đi ra đường quốc lộ 

Hôm nay đã chặt cành 

Đắp cho người dưới mộ 

(Viếng bạn- Hoàng Lộc)

Tuy nhiên, người đồng đội ấy luôn nghĩ tới những chiến thắng để rửa mối thù cho “anh”, nhận thức rõ kẻ thù chung của dân tộc:

Mai mốt bên cửa rừng 

Anh có nghe súng nổ 

Là chúng tôi đang cố 

Tiêu diệt kẻ thù chung

Hay, trong những lời tổng kết của Hoan hô chiên sĩ Điện Biên, nhà thơ Tố Hữu mặc dù nhắc tới những tấm gương hi sinh anh dũng của các đồng chí “thân chôn làm giá súng”, “đầu bịt lỗ châu mai”, “chèn lưng cứu pháo”… mà chỉ cần nhắc tới người dân Việt nào cũng có thể gọi tên những anh hùng: Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót, Tô Vĩnh Diện… Tất cả đều hướng tới con đường phía trước, tới tương lai thắng lợi.

Ở một bình diện khác, sự hi sinh không đến từ chiến trường bom đạn phía trước mà còn từ hậu phương giữa những năm tháng cả nước cùng đánh giặc. Sự mất mát những người yêu, người ý hợp tâm đầu đồng thời cũng là người đồng chí khiến nỗi đau như nhân lên gấp bội. Với những người lính khi đó truyền tay nhau những bài thơ chép trong sổ tay và người yêu thơ hôm nay hẳn sẽ không thể cầm được nước mắt khi đọc Núi đôi của Vũ Cao. Nhưng một lần nữa, người lính lại “biến đau thương thành sức mạnh”, coi sự mất mát đó là động lực, là nỗi đau chung của dân tộc để quyết tâm chiến đấu và chiến thắng. Bởi thế, người con gái anh dũng bị giặc giết “dưới gốc thông” trong thơ Vũ Cao đã thành ngôi sao dẫn đường chỉ lối (em vẫn là sao sáng dẫn đường).

Nếu như trong kháng chiến chống Pháp, tinh thần quả cảm “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” là vũ khí sắc bén thì đến với cuộc kháng chiến chống Mỹ, với phương tiện, khí tài hiện đại của hai phía, sự hy sinh mất mát nhiều hơn nhưng sự lạc quan ấy lại được nhân lên gấp nhiều lần hơn thế. Đó là cảm hứng lãng mạn (lạc quan cách mạng) song hành cùng khuynh hướng sử thi trong cách xây dựng tác phẩm như một đặc điểm nổi bật của các nhà văn giai đoạn này. Trước hết, đó là niềm tin đến ngày toàn thắng giành lại giang sơn gấm vóc. Từ mất mát hôm nay (đau xé lòng anh), anh bộ đội miền Nam vẫn nghĩ tới hình ảnh người con gái hi sinh không còn thân xác đã hóa thân thành quê hương, tình yêu lứa đôi hòa vào tình yêu quê hương đất nước một cách tự nhiên trọn vẹn:

Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm 

Có những ngày trốn học bị đòn roi... 

Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất 

Có một phần xương thịt của em tôi

(Quê hương- Giang Nam)

Cả dân tộc ở phía sau lưng không chỉ nhớ đến tên tuổi của những liệt sĩ bằng phẩm giá của máu xương mà còn cả tư thế, hoàn cảnh khi các anh ngã xuống. Nói đến đau thương bằng một tinh thần bi tráng, các nhà thơ đã nâng tầm vóc của sự lạc quan lên bằng tầm vóc của những người anh hùng dân tộc. Nếu khi xưa Hai Bà Trưng anh dũng chiến đấu rồi tuẫn tiết ở Hát Môn, Thánh Gióng bay về trời thì những người lính hôm nay hi sinh giữa cuộc đời, giữa đất quê hương yêu dấu. Mỗi người lính ngã xuống, đi vào thơ như một định nghĩa mới về chủ nghĩa anh hùng. Họ chính là sức mạnh, là niềm tin để thế hệ sau bước tiếp. Người lính ngã xuống trước biển thật cảm động trong thơ Hữu Thỉnh:

Những ngôi sao tìm cách sáng về khuya 

Những người lính mở đường đi lấy nước 

Họ lách qua những cánh đồi tháng chạp 

Trong đoàn người dò dẫm có anh tôi 

 

Biển ùa ra xoắn lấy mọi người 

Vì yêu biển mà họ thành sơ hở 

Anh tôi mất sau loạt bom tọa độ 

Mặt anh còn cách nước một vài gang 

(Phan Thiết có anh tôi- Hữu Thỉnh)

Đó là khi người lính đã chọn cho mình tư thế hi sinh dũng cảm như một vị thần chiến thắng khiến kẻ thù khiếp sợ. Sự bi thương như tan biến nhường lại cho niềm xúc động về một khí phách. Đó là dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỉ của Lê Anh Xuân:

Và Anh chết trong khi đang đứng bắn 

Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng. 

Chợt thấy anh, giặc hốt hoảng xin hàng 

Có thằng sụp xuống chân Anh tránh đạn 

Bởi Anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm 

Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tiến công.

(Dáng đứng Việt Nam- Lê Anh Xuân)

Người chiến sĩ- thi sĩ ấy đã hoàn thành cả hai sứ mệnh bằng bài thơ để đời và sự hi sinh oanh liệt. Nhưng trên hết, anh ngã xuống như một đỉnh cao của niềm lạc quan cách mạng, niềm tin vào ngày toàn thắng. Để rồi khi đất nước thống nhất, giang sơn liền một dải niềm tin đó đã trở thành hiện thực.

Phương Mai

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại