Suối và sông (*)
17-08-2015 10:48

 

Mọi dòng sông đều bắt nguồn từ suối, sông càng lớn suối càng nhiều, đó là quy luật tất yếu của thiên nhiên. Văn học không hẳn thế. Văn học hội tụ nhiều tác giả và tác phẩm, nhưng nếu tầm tầm sẽ không làm nên nền văn học lớn. Đôi khi một vài tác giả và tác phẩm lẻ tẻ lại có khả năng giúp nền văn học đứng lên, nếu tác phẩm của họ là sản phẩm hay và thứ thiệt. Vấn đề đặt ra ở đây là phát hiện và công nhận nó như thế nào?

Tôi nói vậy, bởi sự phát hiện và quảng bá văn học của từng địa phương đến với cộng đồng rất quan trọng, đây là biện pháp kịp thời và hữu hiệu nhất để tạo cho văn học có ''một dòng sông lớn” tiềm tàng phù sa nhân loại. Làm sao người phát hiện có được “con mắt xanh” khách quan thẳng thắn, biết hướng đi và tương lai của từng tác giả. Tôi không là người như thế, nhưng tôi hoan nghênh bạn đọc, nhà phê bình có tâm thế mỗi khi tiếp cận tác phẩm. Có như vậy, tác phẩm văn học thứ thiệt mới không bị bỏ rơi, thời gian không che phủ bởi lớp bụi mờ, ngược lại người sáng tạo bền bỉ tự tin hơn khi đặt chân trên con đường đã chọn. Người bạn đồng hành vô hình ấy cần thiết biết chừng nào?

Văn học quê tôi không ai phân chia mà bỗng dưng thành hai ngả. Văn học cùng với những trăn trở khám phá, riêng biệt, viết theo cảm hứng của trái tim mình. Số này không nhiều có lúc đơn lẻ lại ít sự động viên cổ vũ. Bên cạnh chiếm số đông được gọi là thứ “văn học” chung chung, quần chúng hóa, sáng tác theo lối quen thuộc từ lâu, vần vèo vô thưởng vô phạt. Cứ như thế mà đi tựa dòng sông mùa lũ hỗn tạp cuốn luôn, sách vở và rác rưởi. Từ đó tôi hình dung ra tỉnh bạn và cả nước. Quả thật đau lòng! Không biết văn học trong nước của các bạn có gặp phải hoàn cảnh như vậy không? Nếu có thì đây là thảm họa của nhân loại. Hãy cảnh tỉnh và cùng nhau xây đắp cho một nền văn học lấy sáng tạo nghệ thuật làm động lực, lấy tinh thần nhân văn của con người làm xương sống. Octavio Paz viết:

Muốn ca thì cứ ca

để quên đi

cuộc đời thực những điều dối trá,

để quên đi

cuộc đời dối trá những sự thực

(Văn bia cho nhà thơ - Nguyễn Trung Đức chuyển tiếng Việt)

Bài thơ như một lời nhắc nhở bản lĩnh người cầm bút. Hiện thực cuộc sống luôn là tâm điểm của sự lựa chọn. Đấy là tiếng thơ của một nhà thơ, nhà văn, nhà ngoại giao Mexico, được xem như “người thợ hàn vĩ đại” đoạt Giải Nobel văn học năm 1990. Niềm đam mê và chính trực của ông đã đặt ông lên vị trí hàng đầu thế giới.

Khi viết những dòng này, tôi thực sự muốn rời bỏ nghiệp văn chương mà mình hằng đeo đuổi gần trọn đời người. Nghĩ lại, tất cả mọi dòng suối đều chảy về sông. Nếu chối bỏ một con suối, ít nhiều tổn thương đến dòng sông. Tôi đành chấp nhận làm người lữ hành, miệt mài đãi cát nơi heo hút của miền quê Quảng Bình, một chấm nhỏ trên tấm bản đồ rộng lớn của thế giới. Tôi muốn giới thiệu cùng các bạn những mẩu quặng thấy được, may ra giúp các bạn hiểu con người và cuộc sống quê tôi, một vùng đất hẹp, cỗi cằn, quanh năm thường xuyên thách thức nắng gió và mưa bão.

*

Một đêm lạc vào xứ sở của núi đồi tiếp giáp đồng bằng, giữa cõi im ắng và mịt mùng “đặc đêm”, tôi chợt nghe loáng thoáng tiếng người nhẩm đọc: “ở đây một miền đặc đêm/ một miền sâu trong nước/ nơi tôi gọi, nơi tôi thức/ nơi tâm linh vọng về...”. Đó là thơ hay lời nói vơ vẩn của ai đó không rõ ràng. Những âm thanh ấy cứ ám ảnh tôi như ma quỷ. Chừng hai năm sau, tôi gặp nó trên tờ tạp chí mới biết đó là thơ từ một bài thơ, tác giả không xa lạ- Trần Thị Huê, một cô giáo dạy trẻ. Tôi đọc tác giả này để hiểu thêm, họ là ai, vì sao họ viết như vậy. Không lâu sau tôi đã viết bài giới thiệu cho cô trong tập “Giấc mơ nhật thực”. Vâng văn học như thế, nó là sản phẩm của trời đất. Thơ Huê là cõi tâm linh chỉ mình Huê thấu hiểu: Mặt trời nhìn thấy tôi mặt trời nhìn thấy lời nói/ thì thầm của cát và dáng đi của cát từng ngày/ nép vào tôi hôn lên làn sóng/ chạm vào lá non sau cơn mưa mùa hạ/ và đọc được câu nói và bước đi trong ngày dưới cách nhìn mỗi sớm (Mặt trời). Mặt trời đã soi tận, nghe được, đọc được, chạm vào tất cả ư? Không ai dạy Trần Thị Huê làm thơ cả. Huê đang sống nơi hang cùng ngõ tận phía tây nam thôn mạc. Tôi lại ngược lên phía bắc, tìm tới nhà Phan Văn Chương lẩn khuất dưới cụm tre làng để nghe anh chàng cầu nguyện: linh hồn thuộc về Chúa/ thân xác cánh đồng khô// tiếng chuông/ giọt nước mắt// xanh hàng cây đức tin (Cây đức tin). Chẳng biết đây là niềm tin gửi gắm Đức Chúa Trời, hay chính là hàng cây đang xanh nữa. Nhưng thôi, ta hãy đặt niềm tin vào cuộc đời cho dù đang sống dưới bóng thánh đường “cao vút lời cầu nguyện”. Cũng chính nơi đó, trong lần vĩnh biệt nhà viết kịch Phan Xuân Hải, tôi gặp Đỗ Thành Đồng. Đồng tâm sự rất chân thật và mộc mạc: “Anh Hải mất em không còn bạn, cho em được làm quen...”. Tôi mời Đồng vào chơi và nói chuyện dài dài về văn học. Đồng đột ngột chuyển giọng: tôi ngộ ra một điều mà/ người bới rác biết từ lâu/ trong đống rác có thứ không rác/ rác của người này máu của người kia/ tôi cũng ngộ ra một điều mà/ trẻ con đã biết từ lâu/ trong những vinh hoa chấp chới màu/ có thứ phải ra nằm đống rác... (Rác). Ý tưởng nghệ thuật mới đã hình thành rõ nét nơi Đồng: nơi có nụ cười đóng khung/ trong bức tranh nhàu nát. Sự chuyển giọng có căn nguyên của nó. Mỗi khi trái tim anh rung động cũ mòn theo một đường đi có sẵn, anh sẽ biến cải để theo kịp cái đà của xã hội, đấy là sự mới mẻ có lý, hợp với sự sáng tạo. Và, cách nay một năm, tôi tình cờ đọc cuốn tiểu thuyết đầu tay của một người rất trẻ sinh năm 1988 - Trác Diễm: Hồn lau trắng. Cuốn tiểu thuyết gây tôi sự bất ngờ về thi pháp. Nhân vật đã chết, được tác giả cho sống lại hẳn hoi, mà không khiên cưỡng, gượng ép, cũng không rơi vào vòng xoáy cổ tích. Trong tâm hồn và lòng yêu thương chân thành của tác giả, con người ấy phải sống để minh chứng tình yêu của mình. Trác Diễm chưa biết đến hiện thực huyền ảo, cũng không sáng tác theo khuynh hướng trường phái nào. Cô lớn lên ở vùng quê miền tây, nghèo khó, lũ lụt thường xuyên. Trác Diễm không có điều kiện để đọc sách vở, chuyên ngành hướng dẫn viên du lịch là công việc làm ăn, rảnh thì viết, viết để ghi lại cái mình yêu thích. Không một tác động nghệ thuật nào tìm đến cô ngoài hai buổi lên rừng và vào hang động. Vậy thì cái gì đã tác động trong tâm thức những người cầm bút nơi đây? Văn học trong trường hợp đó, nó như được đẩy lên từ vô thức, một thứ văn học linh ứng mà thành. Tôi không nói đã là “con suối nhỏ” để hình thành một dòng sông. Tôi muốn khám phá, khơi mạch để dòng chảy không bị tắc nghẽn mỗi khi gặp lực cản.

Suối và sông (*)  - ảnh 1
Bìa cuốn "Hồn lau trắng" của Diễm Trác


Thiên nhiên và đời sống ở quê tôi như một chứng chỉ tích cực có ích cho mọi sáng tạo. Tạo hóa và lịch sử hình như đặc ân cho miền quê kỳ bí này những ân huệ riêng có. Đây là một trong những phần đất của một ông vua cao hứng dâng cho Đại Việt làm của hồi môn để được cưới công chúa Huyền Trân. Nơi hai lần từng làm ranh giới cho các cuộc chiến tranh lớn... Khi sáng tạo, buộc người viết học hỏi để nâng mình và tác phẩm lên cao hơn. Con đường ấy càng đi càng quạnh quẻ. Các bạn tưởng tượng sinh sống trong hoàn cảnh như thế, từ lâu cô đơn đau khổ là người bạn song hành thân thiết cùng con người.

Bài thơ ngắn “Đột nhiên chiều xuống” của Salvatore Quasimodo, nhà thơ Italia- Nobel 1959, đúc kết chân lý ấy:

Mỗi người đứng một mình giữa lòng trái đất

Một tia nắng xuyên qua

Đột nhiên chiều xuống

(Hoàng Hưng chuyển tiếng Việt)

Sáng tạo vậy đó, từ suối đến sông không dễ dàng gì. Thiên chức ấy sao mà đầy ảo giác, vấn nạn và mịt mờ.

Quảng Bình, 04/02/2015

Hoàng Vũ Thuật


------------------

(*) Tham luận của nhà thơ Hoàng Vũ Thuật tại Hội nghị Quốc tế Giới thiệu văn học Việt Nam lần thứ ba và Liên hoan thơ châu Á - Thái Bình Dương lần thứ hai.

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại