Nỗi lo cho phim Việt
20-01-2016 11:15

(Toquoc)- Mấy năm gần đây, Việt Nam đã có một thị trường phim ảnh khá sôi động. Thay vì vài phim chiếu theo mùa Tết hay mùa hè, giờ gần như các phim ra rạp quanh năm. Ngày càng nhiều phim thu hồi được vốn, thậm chí không ít phim có lãi để tái sản xuất. Nhờ mở rộng giao lưu, phim nước ngoài, kể cả phim bom tấn của hãng phim lớn quốc tế lắm khi được chiếu cùng lúc với nhiều nước. Nhưng không phải phim nào cũng có doanh thu tốt. Mới nhất, The Force Awakens (Thần lực thức tỉnh) trong loạt phim Star Wars (Chiến tranh giữa các vì sao), trên toàn cầu một tuần thu gần 900 triệu usd, thì ở các rạp Việt Nam doanh thu thua xa mấy phim hài Việt Nam vừa ra rạp. Thị hiếu khán giả luôn là một bí mật lớn với những nhà phát hành và nhà sản xuất phim.

Cho đến nay, sau nhiều năm phim điện ảnh, ngoài các hãng phim Nhà nước, đã có sự tham gia của các đơn vị sản xuất tư nhân, nhưng kinh phí sản xuất còn rất hạn hẹp. Nếu Holywood từng có phim đến100 triệu usd, thì những phim Việt cao nhất cũng chỉ có vốn bằng 1/100. Đã thế, công nghệ vẫn còn thấp, phim trường thiếu nhiều thứ, đội ngũ sản xuất vẫn còn thiếu chuyên nghiệp, hầu hết trưởng thành qua thực tế, những người được đào tạo với trình độ cao ở các trung tâm điện ảnh lớn còn quá ít và không đồng bộ. Ở một đất nước có lịch sử lâu đời, cảnh sắc thiên nhiên kỳ thú, văn hóa giàu bản sắc, từng đi qua nhiều biến động dữ dội, như nước ta, có biết bao nhiêu chuyện có thể kể làm xúc động lòng người. Nhưng cho đến nay, các tác phẩm điện ảnh của ta vẫn chỉ tự giới hạn trong một quy mô rất vừa phải. Phim của các hãng tư nhân càng phải tính toán, cân nhắc. Sáng tạo phóng khoáng đến đâu cũng phải lo việc thu hồi vốn, để bộ phim đó không là tác phẩm cuối cùng.

Cùng với sự phát triển của các hãng sản xuất, ngoài mấy cụm rạp quốc doanh, đã có nhiều công ty tư nhân trong và ngoài nước tham gia xây dựng các cụm rạp hiện đại ngang ngửa nhau. Máy móc, công nghệ trên thế giới chỉ có hai nơi cung cấp, nên không hơn kém gì nhiều. Nhưng có một nghịch lý, là ngay trong khâu đầu tư xây dựng, các công ty có vốn nước ngoài được ưu tiên nhiều thứ, kể cả không phải chịu thuế khi đưa thiết bị vào lắp ráp, thì các công ty nội địa lại phải chịu rất nhiều thủ tục nhiêu khê và nạp thuế nhập khẩu hàng đặc biệt . Cũng như các siêu thị Thương mại, một khi về tay công ty nước nào, thì đương nhiên họ sẽ giành ưu tiên bán hàng của nước họ sản xuất. Trong kinh tế, sự lựa chọn này là thách thức với nhà sản xuất, muốn tồn tại và thắng, phải nâng cao chất lượng hàng hóa, và điều đó có lợi cho người tiêu dùng. Nhưng văn hóa, trong đó có Điện ảnh, dù trong cơ chế kinh tế thị trường, và khi đã và sẽ tham gia nhiều hiệp ước quốc tế, thì bất cứ quốc gia nào cũng phải có chính sách tự vệ và bảo vệ văn hóa dân tộc. Phát triển định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường nước ta có l phải được thể hiện rõ nhất trong lĩnh vực văn hóa. Cho đến nay đã có luật Điện ảnh, nhưng nhiều điều trong bộ Luật đó chưa đi vào cuộc sống. Dù luôn khẳng định, Văn hóa vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển, nhưng trong thực tế, văn hóa, mà điện ảnh là một ngành nghệ thuật có tác động xã hội rất lớn để góp phần chuyển taỉ những nội dung về tư tưởng-chính trị Đảng và Nhà nước yêu cầu qua từng thời kỳ vẫn còn thiếu một chiến lược phát triển hiện thực, từ đào tạo nhân lực quy mô quốc gia, hệ thống sản xuất, phát hành và chiếu phim. Nhiều phim Nhà nước đầu tư kinh phí lớn vẫn không tới được với người cần được xem. Thí điểm chiếu miễn phí ở một vài cụm rạp không phải lúc nào cũng mời được khách.

Nỗi lo cho phim Việt - ảnh 1
Phim Việt vẫn không ngừng tìm kiếm khán giả (ảnh: Internet)

Một số nhà sản xuất và phát hành tỏ ra lo lắng vì đã xuất hiện những hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh. Có Công ty nước ngoài đã bỏ vốn thâu tóm một số cụm rạp và xây thêm để có một số lượng rạp áp đảo, tạo lợi thế khi phát hành. Sẽ không có gì đáng nói, nếu đó là những hoạt động cạnh tranh bình thường. Nhưng có những biểu hiện vượt qua ngưỡng luật cạnh tranh quy định. Rõ nhất là thường xuyên ưu tiên giành tỉ lệ ăn chia cao hơn cho phim nước ngoài (các mức 60-55-50-45-40), trong khi phim Việt Nam chỉ không bằng những phim nhỏ của Mỹ (các mức 45-40-35-30). Việc chia sẻ mức doanh thu cao hơn cho các chủ phim nước ngoài là hành vi phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp sản xuất phim trong nước và nước ngoài. Trong khi Việt Nam chỉ là thị trường thu phụ thêm sau nguồn thu chính là ở các nước, thì phim Việt Nam sản xuất, nguồn thu chính là ở trong nước. Hơn thế, kênh phân phối lớn nhất là hệ thống rạp Công ty nước ngoài lại điều chỉnh lịch chiếu phim Việt không tốt, không tạo thuận lợi và vị trí tốt cho quảng cáo. Lạ lùng hơn là họ còn đem xe khuyến mại tới cửa các rạp chiếu phim khác để phát vé, tranh giành khách. Phim Việt bị coi rẻ và dìm hàng ngay thị trường trong nước Việt Nam, điều này đi ngược với chính sách khuyến khích phát triển nền Điện ảnh dân tộc đã được thể chế hóa trong Luật Điện ảnh và các văn bản liên quan.

Có một lợi thế là khán giả Việt, đặc biệt là lớp trẻ ngày càng có ý thức ủng hộ các sáng tạo, tìm tòi của phim Việt. Đã có những phim ra rạp được khán giả trẻ nô nức đón nhận. Nhưng như đã nói, nếu với việc nhập các thiết bị công nghiệp hiện đại, cùng với vốn đầu tư và đội ngũ chuyên gia bậc cao, hầu hết tài nguyên quý trong lòng đất đã được khai thác và sử dụng. Nhưng tài nguyên văn hóa muốn khai thác, để tạo thành tác phẩm, thì ta không chỉ thiếu nguồn vốn, thiết bị, mà quan trọng là nhân lực trong lĩnh vực sáng tạo văn học nghệ thuật, cụ thể ở đây là điện ảnh còn quá thiếu và yếu. Các nhà sản xuất phim tư nhân nhiệt tình thì nhiều nhưng tiềm lực vốn liếng và nhân sự thực hiện thì quả là nghèo nàn. Chính ở đây, và lúc này cần hiện thực hóa những sách lược, chính sách của Đảng và Nhà nước về Văn hóa để tạo môi trường tự chủ cho sự phát triển của văn hóa dân tộc.

Một đặc điểm đáng chú ý là các Công ty hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và phát hành phim nước ngoài thường nằm trong một Tập đoàn kinh tế lớn. Họ có nhiều lợi thế khi xâm nhập vào các nước. Không chỉ vốn liếng, được các Tập đoàn chống lưng và tài trợ, mà đi theo các tập đoàn lớn về kinh tế, họ có những sự bảo lãnh hu hình và vô hình của chính quyền các địa phương, nơi họ đầu tư các khu Công nghiệp. Tới đây, do mở cửa, các nhà phát hành phim nước ngoài sẽ tham gia sản xuất phim ngay ở trong nước. Nếu đây là một tin vui cho người xem, thì cũng thêm một nỗi lo lớn cho những nhà sản xuất phim nội địa. Cái nhìn của họ về Việt Nam tất nhiên không bị lệ thuộc vào hệ ý thức tư tưởng, cũng như các nghị quyết về công tác tuyên truyền của Nhà nước ta. Một loạt phim giải trí sẽ là chọn lựa hàng đầu. Các rạp sẽ không còn chỗ chiếu cho phim Việt. Mà nhân lực trong các khâu sản xuất của điện ảnh, từ đạo diễn, diễn viên, quay phim, các khâu khác trong quá trình làm phim vốn ít ỏi hiện có, theo tiếng gọi của lợi ích trước mắt, cũng sẽ bị cuốn vào guồng máy sản xuất của họ.

Ai cũng biết, tham gia hoạt động văn hóa, cụ thể ở đây là điện ảnh, luôn có hai loại người: Một coi đây là phương tiện, họ kinh doanh để kiếm tiền. Khi thuận lợi, họ xông vào làm mọi cách để sớm có lợi nhuận, và lợi nhuận nhiều nhất. Khi cảm thấy khó khăn, hoặc không còn nhiều lợi nhuận, họ sẳn sàng chuyển hướng, hoặc chuyển nhượng thương hiệu cho các Công ty nước ngoài. Hiện tượng này đã và đang diễn ra, và thật ra, cả về lý cũng như về tình, không ai trách móc họ được. Một bộ phận khác, ngoài mục đích kinh tế- vì không ai buộc hay phân công cho họ- chọn ngành này còn vì tình yêu, ý thức đối với văn hóa dân tộc. Mấy năm qua, không phải lúc nào cũng thuận lợi, phim nào cũng thành công, nhưng nhiều cá nhân, Công ty cũng đã xây dựng được thương hiệu của mình. Có người cho biêt, nếu không vì những động cơ không ai trao mà tự nhận đó, thì trong các phi vụ thương lượng mua bán vừa qua, nếu họ sn sàng bán thương hiệu của mình, thì gia đình đủ sống ung dung vài đời mà không phải làm gì cả! Trong khi để gi thương hiệu, thì thường xuyên, và suốt ngày đêm luôn lo nghĩ, tìm ý tứ sáng tạo, tìm các đối tác để liên kết, tìm các nguồn kinh phí để vừa sản xuất, vừa nuôi sống một đội ngũ đông đảo những người tham gia sản xuất thuộc rất nhiều lĩnh vực. Thiếu ý thức công dân và sự tự ái, tự hào về văn hóa dân tộc, không phải ai cũng kiên định với sự lựa chọn nhọc nhằn, đầy mạo hiểm này.

Tham gia TPP, hòa nhập cộng đồng ASEAN, không chỉ kinh tế, mà văn hóa Việt Nam đang đứng trước những thử thách lớn. Trình độ của nhân lực lao động Việt Nam là một vấn đề lớn, thì nhân lực trong văn hóa có l còn đáng báo động hơn. Một nền văn hóa hiện đại, cần một nền công nghiệp Điện ảnh hiện đại. Máy móc, các phương tiện kỹ thuật, có tiền là giải quyết được ngay. Nhưng con người sử dụng, và phát huy hiệu quả những máy móc kỹ thuật đó để sáng tạo ra những tác phẩm nghệ thuật mới mẽ, hiện đại thì cần được đào tạo công phu, thử thách và rèn luyện qua thời gian. Bài học phát triển Điện ảnh của các quốc gia thành công đều bắt đầu từ đào tạo nhân lực. Điều này, ai cũng nói, cũng biết, nhưng hình như không có cơ quan, tổ chức nào nhận trách nhiệm thực hiện. Ở đây, xin đừng đem các lò đào tạo trong nước ra để thay thế.

Hy vọng, nhận ra thực tế đáng lo ngại cho sự tồn tại và phát triển của văn hóa nước nhà, Đại Hội Đảng XII, trong những quyết sách lớn để xây dựng đất nước, sẽ lưu ý đúng mức đến lĩnh vực văn hóa, trong đó có Điện ảnh, một loại hình nghệ thuật hàng đầu trong công tác tư tưởng, và giới thiệu hình ảnh đất nước và con người Việt Nam.

04-01-2016

Ngô Thảo

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại