Đầu xuân thăm quê Hải Thượng Lãn Ông
25-02-2016 01:38


(Tổ Quốc)- Đầu xuân 2016 chúng tôi về thăm quê Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác - Một đại danh y nổi tiếng. Đây là quê ngoại của ông. Bởi ông sinh ra ở thôn Văn Xá, Phủ Thượng Hồng, Hải Dương (nay là xã Lưu Xá, huyện Yên Mỹ, Tỉnh Hưng Yên). Tuy nhiên cuộc đời ông phần nhiều (đặc biệt là từ năm 26 tuổi đến lúc mất), ông gắn bó với quê mẹ ở thôn Bầu Thượng, xã Tịnh Diễm, Phủ Đức Quang, trấn Nghệ An (nay là xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh). Vì thế tôi mới hiểu vì sao ông đặt tên hiệu “Hải Thượng Lãn Ông” là hai chữ đầu của tỉnh Hải Dương và Phủ Thượng Hồng quê cha và xã Bầu Thượng quê mẹ. “Lãn Ông” nghĩa là “Ông lười” ngụ ý lười biếng, chán ghét công danh, tự giải phóng mình khỏi sự ràng buộc của danh lợi, của quyền thế để được tự do nghiên cứu y học, thực hiện chí hướng mà mình yêu thích.

Đầu xuân thăm quê Hải Thượng Lãn Ông - ảnh 1

Tượng đài đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác

Trước lúc lên Hương Sơn tôi đã tìm đọc cuốn sách “Thượng kinh ký sự” của Hải Thượng Lãn Ông. Thật lạ, ngày xưa học chuộng về từ chương không mấy ai viết văn tự sự kể những việc hằng ngày. Có lẽ đây là cuốn sách duy nhất trong nền văn học cổ, người thực chép việc thực. . Vì thế khi trở lại Hương Sơn , tôi lại bồi hồi rạo rực khi lật những trang đầu của thiên ký sự ngỡ như còn tươi rói thơm mùi mực tàu là cả một khung cảnh ngày xưa ùa về như ông đã tả: “Trong cái áo ở mé tây vườn, đàn cá tung tăng ra đớp những vành trăng nhấp nhô trên sóng. Chim Oanh qua lại, vun vút như thoi đưa, bay vào lùm cây mát rượi. Tôi thường dắt Tiểu Đồng lên núi tha hồ ngắm cảnh khói mây để tiêu khiển…” Từ thị trấn Phố Châu qua sông Ngàn Phố đến Sơn Diễm chúng tôi vào thăm vườn đào Hải Thượng Lãn Ông. Vườn đào này được ông trồng sau khi về quê mẹ. Qua ba thế kỷ vườn đào vẫn còn lưu giữ núi Giả và hồ Sen nằm ở góc vườn. Núi Giả cao 4m diện tích gấn 50m2 là nơi Hải Thượng Lãn Ông dùng làm chổ quan sát hướng gió, xem thời tiết để bắt mạch kê đơn chữa bệnh. Trước đây trên đỉnh núi Giả còn có cây cột mà đại danh y thường cắm lá cờ đuôi nheo để biết hướng gió thời tiết ngắm sao thiên văn cho việc chẩn trị y mạch. Cây cột còn là nơi buộc dây diều mà trên cánh diều gắn với ống sáo diều chúa Trịnh Sâm ban tặng lúc đại danh y ra kinh chữa bệnh cho chúa. Lê Hữu Trác lúc còn sống đã có lần nhắn gửi với con cháu: Diều đứt dây rơi xuống chổ nào thì sau này đặt mộ huyệt của ông ở đó. Hồ Sen hình bán nguyệt đã được kê đá. Vườn đào ngày xưa còn là nơi trồng vườn thuốc nam của Hải Thượng Lãn Ông. Dân làng ở đây kể lại rằng: Vào khoảng năm 1750 đại danh y cho ươm đào và nhân giống đào phai của địa phương. Gốc và cành đào có màu đồng hun. Giống đào hoang dã này mọc nhiều ở dãy núi Nen của địa phương. Cây đào to, tán rộng, nhiều cành, hoa năm cánh màu hồng phai. Quả đào nhỏ, hạt nhỏ, nhiều lông, lúc chín vỏ màu vàng. Hải Thượng Lãn Ông trồng đào không chỉ để chơi hoa mặc dù hình ảnh hoa đào nhiều lần xuất hiện trong thi tứ của ông và cũng là loài hoa mang sắc thái tượng trưng cho ngày tết của dân tộc. . Hải Thượng Lãn Ông trồng đào, vì cây đào cũng là một cây thuốc quý. Lá đào sắc chữa nhọt, hạt đào chữa bệnh phụ nữ có trong các bài thuốc của Hải Thượng Lãn Ông. Và thịt của quả đào có công dụng như một thực phẩm chức năng. Hình thù của quả giống trái tim gợi bao xúc cảm tâm tình. Khu vườn đào rộng 6 mẫu nằm cạnh Sông ngàn phố nay là khu vườn nhà thờ Hải Thượng. Ngôi nhà thờ 3 gian (Gỗ xoan, mít, tứ trụ có chạm khắc và cánh cửa pa - nô có cảnh xuân, hạ, thu, đông và long, ly, quy, phượng). Trước đây khu vườn này đại danh y Hải Thượng Lãn Ông cho xây 7 ngôi nhà: nhà Nghinh Phong để đón khách, nhà Di Chân dùng để nghỉ ngơi, còn có nhà bếp và các nhà: Nhà sao sấy thuốc, nhà kê đơn bắt mạch, nhà kho đựng thuốc và nhà cho người bệnh nghỉ ngơi. Mới biết ngay từ ngày đó nhãn quan nhìn xa trông rộng của một đại danh y đã gắn kết con người với khí hậu thiên nhiên, dùng thuốc nam của cây rừng tránh xa ồn áo để dưỡng tâm, dưỡng thần và tâm hồn thi sỹ của ông cũng được ươm mầm gieo hạt lành, hạt thiện ở đây. Ngôi nhà thờ ba gian này do người dân xã Sơn Hà cúng hiến tặng. Vườn đào nay được phục dựng trồng mới lại. Trong nhà thờ ngoài bàn thờ có bộ ngũ sự bằng đồng và nhiều di vật thì bức di ảnh của Lê Hữu Trác được phóng to treo một cách trang trọng là di vât quý giá nhất. Ông Lê Hữu Quý cũng là lương y cháu đời thứ sáu của đại danh y cho tôi biết một chi tiết rất thú vị về bí mật của tấm di ảnh rất đẹp, rất thần này của Lê Hữu Trác. Đó là hồi ấy có rất nhiều học trò khắp các nơi về tìm thầy theo học, trong đó có nhiều người có tài lẻ nghệ nhân. Có một học trò vì quá yêu quý thầy nên đã tìm gỗ mít nghệ - Một loại gỗ quý hiếm ở đất Hương Sơn, lặng lẽ tạc tượng thầy bằng tất cả tình cảm với đôi bàn tay tài hoa của mình. Bức tượng đã được thổi vào đó những đường nét rất sống động, được người đương thời khen là đẹp và giống Hải Thượng Lãn Ông. Những tấm ảnh chân dung sau này đều họa lại từ bức tượng đó, chứ hồi đó làm gì có máy ảnh để chụp. Hiện nay bức tượng được con cháu họ Lê Hữu đem về thờ bên nhà thờ họ ở Hưng Yên.

Về thăm quê ngoại của Hải Thượng Lãn Ông tôi cứ hình dung ra nơi đây hình thành một tam giác mà ba đỉnh là ba di tích đặc biệt gắn với cuộc đời ông. Một đỉnh đó là quần thể di tích đại danh y: khu mộ, khu tượng đài, khu đón tiếp. Ông qua đời vào ngày rằm tháng giêng năm Tân Hợi (1791) tại thôn Bầu Thượng thọ 71 tuổi. Mộ ông nằm ở khe nước cạnh chân núi Minh Tự thuộc xã Sơn Trung. Đỉnh tam giác thứ hai là nhà thờ và vườn đào Hải Thưởng Lãn Ông. Còn đỉnh thứ ba có liên quan đến đời tư của Lê Hữu Trác là chùa Tượng Sơn. Qua tìm hiểu và soi chiếu với “Thượng kinh ký sự” tôi mới biết đại danh y có một mối tình trắc trở với một người con gái ở quê cha. Và có lẻ từ đó ông có duyên căn với những ngôi chùa, với phật giáo. Bởi suy cho cùng trong triết lý của nhà Phật bao giờ cũng đề cao cái thiện như đạo lý của nho y vậy. Chùa Tượng Sơn được xây vào đời Hậu Lê đời Lê Dụ Tông (đầu thế kỷ XVIII) theo ý tưởng của bà đại danh y là bà Đặng Phùng Hầu vợ của Quận Công Bùi Tướng Công. Chùa được xây dựng dưới sự trực tiếp chỉ đạo của Hải Thượng Lãn Ông và Lê Hữu Tản. Trong những năm 1760 - 1786 Hải Thượng Lãn Ông đã dành phần lớn thời gian lưu lại chùa mở phòng mạch chữa bệnh cho dân và hoàn thành các tác phẩm sách thuốc của mình. Lúc chúng tôi đến chùa mới được trùng tu lại khang trang. Phía trước chùa vẫn là con sông Ngàn Phố hiền hòa. Phía sau chùa có dãy núi Voi nên đặt tên là “Tượng Sơn Tự” (Chùa núi Voi). Phía tây ngay bên chùa là khe suối bắt nguồn từ dãy núi Đại Huệ băng qua gềnh đá ngày đêm nước chảy ầm ầm, nên chùa còn có tên là “Chùa ầm ầm”. Sư thầy Thích Ngộ An, dẫn chúng tôi đi thăm vườn chùa. Đặc biệt ở đây còn có cây vải thiều, do Lê Hữu Trác mang từ quê cha vào trồng cách đây 300 năm. Cây vải cổ thụ xanh tốt như một cụ già quắc thước đến mùa vẫn chíu chít cho con cháu những chùm quả ngọt lúc lĩu. Vải cũng là một loại quả thuốc ngày xưa là đặc sản tiến Vua

Trở lại với mối tình đầu của Đại danh y mà ông đã dành trọn vẹn những trang gần cuối của “Thượng kinh Ký Sự” để viết về cảnh gặp gỡ của hai người một cách tình cờ. Đó là câu chuyện ông trót lãng quên người vợ mà mình đã cầu hôn, dạm hỏi nhưng chưa kịp làm lễ cưới. Trong một dịp gần đây tôi về Hưng Yên và được nghe người làng Liêu Xá kể lại: Năm 62 tuổi đại danh y được lệnh chúa triệu về kinh chữa bệnh cho Trịnh Cán, Trịnh Sâm. Trong thời gian gần một năm ở kinh đô ông đã về thăm cố hương Hưng Yên của mình sau hơn 40 năm xa cách. Ông xúc động khi biết rằng người vợ năm xưa mình đã từ hôn vẫn còn đây, vẫn nồng nàn chung thủy bằng cách xuống tóc đi tu nguyện một đời nhớ thương người chồng chưa cưới của mình. Cuộc tái ngộ sau 40 năm cách biệt Hải Thượng Lãn Ông xin rước bà về gõ mõ tụng kinh ở chùa Tượng Sơn nhưng bà đã khéo léo từ chối.

Về thăm quần thể di tích Hải Thượng Lãn Ông đầu năm này, chúng tôi bất ngờ khi bắt gặp khu du lịch sinh thái Hải Thượng. Đây là khu du lịch văn hóa liền kề với khu di tích Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác. Mỗi công trình trong khu du lịch đều mang đậm nét văn hóa hình thành hai phong cách. Một nửa phía hạ lưu với lối kiến trúc theo phong cách phương Đông. Một nửa còn lại kiến trúc theo phong cách phương Tây. Là điểm du lịch văn hóa tâm linh nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe và văn hóa ẩm thực mang đậm nét của núi rừng Hương Sơn, Hà Tĩnh. Ngoài ra ở đây còn có các công trình như nhà thuốc, quầy nông lâm thổ sản. Trước cổng khu du lịch sinh thái có tảng đá khắc bài thơ của nhà thơ Lê Cảnh Nhạc: “Hồn đá Minh Tự khe nước Cắn - Lãn Ông tâm lĩnh vút non ngàn - Cánh diều sải muôn trùng xa thẳm - Bạn bầu cùng núi thẳm rừng xanh”. Hằng năm vào rằm tháng giêng khách du lịch gần xa đổ về đây dự lễ hội rất đông. Và trên đỉnh núi cao lộng gió ngàn là bức tượng toàn thân của đại danh y cao 14m, nặng khoảng 30 tấn bằng đá hoa cương được dựng trên núi Minh Tự cạnh mộ ông. Đại danh y đứng đó trong gió ngàn đua hương khoe sắc nhìn về xa vời vợi. Trước ngực ông là bộ sách một đời làn thuốc ông đã tích lũy chắt lọc, để lại cho đời bộ “Hải Thượng y ông tâm lĩnh” gồm 28 tập, 66 cuổn, là tinh hoa y học cổ truyền. Đây là bộ sách thuốc được đánh giá là công trình y học xuất sắc nhất trong thời trung đại Việt Nam và cuốn “Thượng kinh ký sự” là một tuyệt tác về văn học cổ. Ông nhìn ra xa, khu vườn đào Hải Thượng Lãn Ông chợt lấp lánh những giọt nắng ngọt hiếm hoi trong những ngày gió lạnh. Hình như mùa xuân đã chiếm trọn nơi này...

Bút ký của Nguyễn Ngọc Phú
Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại