Độc bản
15-06-2015 04:34


Mùa khô đã trở lại hơn tháng nay. Từ những chóp núi, gió Lào mang theo hơi lửa trườn xuống, thổi ràn rạt qua miền rừng bao la của Đông Trường Sơn, rồi đổ bộ về vùng đồng bằng ven biển. Nắng và gió bủa vây. Muôn vật đang trong một lò nướng khổng lồ. Nhưng lạ lùng thay trước cơn thịnh nộ của đất trời, núi rừng cây lá miền biên viễn vẫn xanh rời rợi. Cuối cọng cỏ buổi ban mai còn rung rinh những giọt sương li ti trong suốt. Một vẻ đẹp đầy kịch tính của thiên nhiên. Bản Karoong nằm lọt giữa thung lũng. Con suối chảy qua bản đã kiệt nước. Từ nẻo đường nhỏ chạy vắt vẻo ven núi nhìn xuống, suối chỉ còn là một dòng chảy hẹp lô nhô đá đơn côi. Lũ trẻ đang chống nóng bằng cách trần truồng đầm mình giữa những vũng nước cạn. Đen trũi như một bầy nghé con dưới nắng. Tôi vừa ngược chiều những cơn gió nóng để đến nhà Hồ Thoong. Mới sáng mà ông đã trong cơn say. Cơ thể oặt mềm. Đôi mắt chập chờn hoang dại. Có vẻ quá quen với những vị khách không mời mà đến nên ông vẫy tay bảo chúng tôi “Lên đây!” rồi thản nhiên ghé đầu ngó xuống rất khinh khi.

- Tôi muốn tìm một cuốn sách cổ!

Hồ Thoong bật dậy như vừa được đóng mạch, gương mặt bừng nở một nụ cười mộc mạc:

- Tưởng con buôn lên mua mật oong?!

Tôi bật cười tự nhìn lại thực thể cơm gạo nhẫy nhụa mồ hôi, lấm lem bụi đỏ của mình. Có lẽ Hồ Thoong có lý. Không vì tiền chẳng can cớ chi mò mẫm đến chốn này giữa những ngày nắng gió khốc liệt. Thay cho lời chào ông đưa tôi chén rượu nồng chua, có lẽ đã được rót ra từ đêm qua. Men rượu lạt nhưng tôi bốc hỏa. Thân thể đỏ lỏng, nóng rẫy như một cục than. Chẳng nói gì thêm ông lặng lẽ quay vào góc nhà, đầu cúi thấp đến nỗi mái tóc đã ngã màu muối trắng lòa xòa xuống sàn gỗ, hai tay cung kính chắp trước ngực và bắt đầu lầm rầm khấn vái... Thi thoảng Hồ Thoong lại thít lên một tiếng rất dài qua kẽ răng... Không biết Hồ Thoong đang cầu khấn điều gì?! Ông ta đã kéo tất cả chúng tôi vào khoảng không gian linh thiêng được khu biệt vô hình trong ngôi nhà sàn nhỏ bên sườn núi. Đột nhiên, một cơn gió mang hơi lạnh lùa vào khung cửa nhỏ. Hồ Thoong rùng mình. Tất cả chúng tôi rùng mình. Hình như nghi lễ xin thần linh mở báu vật của Hồ Thoong đã linh nghiệm. Ông ta kính cẩn lấy từ trên gác xuống một ống nứa nâu bóng màu năm tháng và giơ lên quá đầu:

- Phôộc năng xừ!

- ...

- Sách lá!

- ...

Đó là cổ vật độc bản tôi đang đi tìm.

Độc bản  - ảnh 1
Một bản sách lá còn lưu lại của người Khùa


Khùa là tộc người thuộc nhóm Bru Vân Kiều. Ở Quảng Bình, người Khùa tập trung chủ yếu ở các xã vùng rẻo cao Trọng Hóa, Dân Hóa, huyện Minh Hóa. Quả nhiên, ở nơi đỉnh núi chạm mây trời đã mặc định tập quán sống, tính cách sống của người Khùa. Đó là cuộc sống huyền bí mà tự do, thảo dã mà tế nhị thủy chung. Hay ngược lại, bởi những đỉnh núi ấy có người Khùa nên núi cũng có linh hồn của núi, thân phận của núi. Khi ngồi trong căn nhà nhỏ của Hồ Thoong, tai nghe ông ta lầm rầm khấn khứa với thần linh, mắt ngước nhìn đỉnh Giăng màn đang “ngày mở cửa”, tôi bàng hoàng nhận ra sự chói lọi của đỉnh núi thiêng. Hồ Thoong nói rằng: Chúng tôi là người may mắn vì mỗi năm chỉ có sáu ngày với 18 giờ đồng hồ, khoảng cuối tháng tư và đầu tháng 9 hàng năm đỉnh núi Giăng Màn hiện rõ giữa trời xanh. Một nguồn ánh sáng cường độ mạnh từ vũ trụ hắt xuống khoảng núi trên cao, ngọn núi không còn xanh mà vàng rực, bập bùng phát hào quang. Theo người Khùa, ai trong đời được một lần tắm táp thứ ánh sáng huyền bí ấy sẽ trường cửu. Bởi đó không phải là những tia nắng đơn thuần hàng triệu thiên niên kỷ qua tưới xuống mặt đất, mà chính là ánh sáng rọi soi từ đôi mắt thần linh. Không ngờ chính nguồn ánh sáng thần bí ấy làm đổ mồ hôi núi mẹ, tạo ra con nước đầu nguồn sông Gianh quê tôi. Người Khùa nhờ sức mạnh của núi để tồn tại. Ngẫu nhiên chưa bao giờ những ngôi nhà của họ vượt ra ngoài phạm vi bóng núi. Cũng như chưa bao giờ người Khùa vượt ra ngoài lòng núi để kiếm ăn. Núi là thần linh ban cho họ linh hồn. Núi là cha, lo cho họ nếp nhà. Núi là mẹ, lo cho họ nguồn sống. Dưới bóng núi đã có không biết bao thân phận được sinh thành, dưỡng dục, chuyển cõi và tái sinh. Chỉ cần có núi, người Khùa hân hoan đón chào kiếp làm người cũng như sẵn lòng nhận lấy đớn đau như một lẽ thường tình.

Sách lá của người Khùa là sự kết hợp hữu cơ của Thiên-Địa-Nhân. Lá cây ở trên rừng. Loại mực lấy từ mật của loài cá dưới suối. Và trí tuệ của người Khùa. Tất cả quyện hòa chan chứa vào nhau để tạo thành một sản phẩm văn hóa: Vật thể - phi vật thể, phi cơ khí để đời qua hàng thế kỷ. Lá vẫn nguyên màu lá, ngà trắng và phẳng phiu. Mực vẫn tươi màu mực, đen nhức và sắc nét. Ở đây mọi khái niệm “hiện đại” và “công nghiệp”, “không gian” và “thời gian” đều bị khuất phục. Cội nguồn sách lá cho tôi những hoài nghi, lá cây nào tôi thấy có thể biến thành những trang sách?! Con cá vô ưu nào có thể tiết ra thứ mật đắng để làm nên màu chữ?! Thứ dây rừng bền dai nào để kết nối những phiến lá nhỏ?! Người Khùa nào có bộ óc vỹ đại sáng chế ra cuốn sách mang tính hữu cơ toàn phần này?! Mới hay để sản sinh ra bất cứ thứ gì trên đời đều phải có sự giao hòa. Sung sướng là quyền năng sáng tạo.

Nhà nghiên cứu Văn hóa dân gian Đinh Thanh Dự cho tôi hay: Người Khùa vốn có gốc gác Lào. Sách lá ra đời cách nay khoảng 200 năm. Hồi đó, người Khùa vẫn dùng chữ Lào, nói tiếng Lào để giao tiếp. Tuy nhiên, sau một thời gian định cư trên đất Việt, người Khùa chủ yếu dùng ngôn ngữ Việt. Thế hệ trước không có ý thức trao truyền vốn văn hóa của dân tộc. Số người đọc được chữ Lào cổ ngày càng ít. Tiếng Lào cổ bị mai một. Sách lá trở thành ẩn số. Tuy nhiên với phương thức truyền miệng dân gian, những câu chuyện huyền thoại của Sách lá vẫn được lưu giữ trong cộng đồng người Khùa Minh Hóa. Chủ yếu tập trung ba nhóm đề tài chính, gồm: Sách văn thơ chép những câu chuyện tình yêu lứa đôi, tình yêu cuộc sống; sách gia phả chép lại lịch sử, phong tục tập quán và những lời răn dạy hiếu- lễ- nghĩa...; sách võ thuật chép lại những kỹ năng rèn luyện và bảo vệ sức khỏe trước thiên nhiên, cách đối phó với thú dữ... trong quá trình sinh tồn của người Khùa.

Nguồn gốc ra đời và những câu chuyện thú vị của “Phôộc năng xừ” hấp dẫn tôi. Vượt qua sự e dè ban đầu, tôi xấn xổ đến ngồi bên Hồ Thoong để có thể nhìn rõ hơn cổ vật. Thiếu tá biên phòng Trương Vỹ Lê nhẹ nhàng níu tôi lại với lời nhắc rất nhỏ “Mình không được ngồi đó?”. Hồ Thoong gật đầu nhất trí. Thì ra tôi đã quên mất thân phận đàn bà của mình. Trong ngôi nhà của người Khùa, đàn bà không được phép lảng vảng trong gian chính. Bởi đó là chỗ thần linh ngự trị. Hồ Thoong vẫn ngồi xếp bằng tròn trên chiếc chiếu cũ và cáu bẩn. Những ngón tay khô khẳng của ông ta vuốt rất nhẹ như mân mê những con chữ ngoằn nghèo uốn lượn trên phiến lá dài và hẹp. Nghe nói đó là thứ ngôn ngữ Lào cổ do ngày xửa ngày xưa đã có mấy vị nhà sư Lào sang dựng chùa mở nghiệp tu trên đất Minh Hóa. Tôi bỗng thấy thấp thoáng sau hàng chữ uốn lượn kia những ngón tay cong vút thuôn dài, những bắp chân trần thon thả, những eo cong, những mông uốn, những ngực đầy của lũ gái Lào nở nang xuân thì đắm say vũ khúc Lăm Vông. Gương mặt Hồ Thoong, đôi mắt Hồ Thoong sáng lên ma mị và ông ta nói như nhập đồng về cuốn sách. Đó là những câu chuyện tình yêu thơ mộng và thủy chung của người Khùa. Nhận ra, được đỉnh núi Giăng Màn nuôi dưỡng, chở che và truyền cho linh khí nên tâm hồn người Khùa dư dả phóng khoáng, phủ phê lãng mạn để sáng tạo ra một “trường phái” văn học riêng. Mỗi cuốn sách là một tác phẩm độc bản. Cụ thể nhưng đầy tính giáo dục. Đơn giản và không giáo điều.

Bị chén rượu đoác của Hồ Thoong làm say, những nơron thần kinh trên cơ thể rân rân chuyển động, kích thích thêm sự liều lĩnh đã có sẵn trong người hay bị ám ảnh bởi nguồn ánh sáng thần bí hắt xuống từ đỉnh núi, tôi có ý tìm đến một điểm cao nào đó để được hưởng tí chút năng lượng trường cửu của núi mong đáp ứng nhu cầu “ham sống” của mình. Hồ Thoong nheo nheo hai con mắt bàng bạc nhìn tôi như một lời nhắc khéo:

- Đàn bà Khùa chỉ ở trong bếp giữ cái lửa thôi! Lửa để giữ hạnh phúc gia đình. Lửa để đuổi con ma. Nhà không có lửa như con người không có trái tim!

Bởi thế cho nên, ngoài trời gió Lào lồng lộn thổi, vợ ông vẫn kiên nhẫn ngồi bên bếp cời than mặc cho đôi má đã chín màu sim tím, đang chức nứt ra như một khúc khoai lang bùi nướng già lửa. Bếp nhà Hồ Thoong vẫn âm thầm ngọn lửa nhỏ. Những sợi khói lam mong manh vẫn đêm ngày bay lên, tan vào mây và gió.

Người Khùa tự hào có “Phôộc năng xừ’. Hơn trăm năm qua hay có thể là dài lâu hơn nữa, dù đọc được hay không đọc được, những câu chuyện truyền miệng từ “Phôộc năng xừ’ đã trở thành ánh sáng soi rọi từng bước chân trần dò dẫm trên mỗi mõm núi của người Khùa. Lũ trẻ nhà Hồ Thoong mới dang nắng từ dưới suối lên. Tất cả trần truồng và đen bóng. Thấy nhà có khách lạ cả bọn bu kín cửa, râm ri bàn tán chuyện gì bằng tiếng Bru. Một lúc sau thì im bặt. Có lẽ chúng bị câu chuyện của Hồ Thoong kể thu hút. Những đôi mắt mi cong, mày rậm đen tròn mở to. Những cái miệng nho nhỏ há ra mặc cho nước dãi đã chảy tràn. Mũi xanh quệt ngang, quệt dọc. Nhưng có hề gì bởi chúng đang lớn lên dưới bóng núi thần. Cũng như người Khùa bao đời qua nấp trong nách của núi để tồn tại vững bền. Chuyện của Hồ Thoong không đầu, không cuối. Có chuyện nằm ở trong “Phôộc năng xừ”. Và có cả những chuyện ở ngoài dân gian. Từ chuyện vị thần Ku lôông huyền thoại đi mây về gió, đội trời, đạp đất bảo vệ cuộc sống người Khùa đến chuyện những chiến binh tráng chí bằng thịt, bằng xương nghe chiếu Cần Vương sẵn sàng rời núi theo vua Hàm Nghi về Minh Hóa đánh Pháp, hay chuyện cha ông, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Hồ Phòm - điệp báo viên gan dạ trên hai mái Trường Sơn cùng người Khùa tham gia đánh giặc cứu nước thời chống Mỹ. Với người Khùa những người có ơn với đồng bào đều được suy tôn làm thần.

Gió vẫn thè lè chiếc lưỡi dài liếm rát những ngọn đồi cỏ tranh phía sau nhà Hồ Thoong. Vài đứa trẻ bị chuyện chàng “Ca La Khệt” tinh thông phép thuật, giúp vua giết giặc giữ bản của Hồ Thoong vỗ về đã sải cẳng, sải tay lăn ra sàn nhà, những mụt măng bé tí ở giữa hai chân cũng mệt mỏi xệu xạo nghẹo xuống chìm trong cơn ngủ. Đột nhiên Hồ Thoong đổi giọng cất lên một điệu “Khắp”: “Ô ô ô nọ ọ ải cò khứt noọng bọ lưm đầy thưng nhàm noọng ơi!... Anh nhớ đến em không bao giờ quên được em ơi. Anh đi tìm em. Nửa đêm cũng đi. Sắp sáng cũng đi. Không có đèn lấy trăng thay đèn! Ơ noọng ơi....”. Giọng hát trầm rền ngân dài của ông ta chầm chậm xuyên thủng không gian quánh đặc bụi trần ai, tùa giang sơn nắng gió lại, mở ra một đêm thao thiết đắm say ái tình. Hồ Thoong đang mộng du vào một đêm trăng sơn cước, bước thấp bước cao trên triền núi theo nhịp đẩy đưa lên xuống của câu hát, mặc cho ngoài kia hơi nóng đang thiêu đốt bốn bề.

Phôộc năng xừ! Trong thế giới tâm linh của người Khùa, đó là vật thiêng. Bởi thế cho nên dù đã quá tuổi trăm năm, Phôộc năng xừ vẫn không rêu phong cũ mốc. Phôộc năng xừ vẫn sống lung linh trong tâm thức người Khùa, thanh lọc cốt cách người Khùa bằng một thứ văn hóa vô hình nhưng đầy uy lực, văn hóa thần. Không dám bàn đến những điều cao siêu, ví như cái gọi là “khái niệm triết học”, nhưng mặc nhiên Phôộc năng xừ đã nói lên bản sắc văn hóa Khùa, triết lý nhân sinh Khùa. Hồ Thoong vẫn luôn tay lật giở những trang sách, mắt nhìn vợi xa lên đỉnh núi, lặng im như thiền định. Tôi say! Thoát thai bản ngã, đắm chìm vào những huyền tích Khùa, quên mất thực thể nhám xít bụi đời, bắt gặp nguồn sáng chói lọi từ đỉnh núi đánh thức niềm tin ngất lịm bấy nay, tôi thấy mình bị hút lên, nhẹ bỗng như một quả bong bóng. Có lẽ đó là lúc tôi cảm được tinh thần Khùa từ “Phôộc năng xừ”. Cuốn sách mang dáng hình mảnh khảnh và tinh khiết như thân thể, như tâm hồn tân nữ Khùa buổi ban mai.

Trương Thu Hiền

 

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại