Đôi dép
23-10-2015 11:08


(Toquoc)- Lâu lắm rồi ông bà mới đi chợ ga. Bà nằng nặc đòi mua cho bằng được đôi dép nâu siêu nhẹ. Ông không tiếc bà đôi dép nhưng khốn nỗi cái giống này trời nắng không sao, cứ nhà nồm, trời mưa thì liệu chừng nó dở chứng. Bà đã một lần bị tai biến, ngã lần nữa thì gay. Ông gàn: "Đẹp gì, cái loại này giờ ai người ta còn đi nữa. Để tôi bảo con út nó chọn cho bà đôi dép da đi vừa chắc chân lại vừa đẹp". Bà không chịu. Nó giống y chang đôi dép thời còn trẻ mà bà vẫn thường ao ước. Mỗi lần qua chợ, bà chỉ dám đứng nhìn mà chẳng dám mua. Tiền nong ngày ấy dồn hết vào mấy đứa nhỏ, ăn chẳng đủ no, thành ra đôi dép là mơ ước theo bà bao nhiêu năm. Rồi đột nhiên người ta chẳng bán nữa. Đến hôm nay bà mới lại nhìn thấy. Bà khăng khăng mua. Ông lại rất sợ bà nổi cáu. Cuối cùng đôi dép nâu siêu nhẹ tòng teng trong cái túi bóng treo trên ghi đông theo ông bà về nhà.

Bà đã sang tuổi 70 nhưng da bà lúc nào cũng hồng hào, tuyệt không một vệt tàn nhang hay đồi mồi, mái tóc trắng phơ như cước, đôi mắt lúc nào cũng nheo nheo như muốn cười. Còn nhớ hồi trẻ, hai ông bà đi tàu về quê. Da bà trắng hồng như đánh phấn, tóc đen dày dài đến khoeo chân, ai đi qua cũng phải quay lại nhìn. Về làng có người trông thấy bà liền tỏ ra khó chịu: "Đi tàu xóc bỏ mẹ còn son phấn". Bà chẳng nói chẳng rằng, đi thẳng ra giếng rửa mặt. Càng rửa mặt bà càng trắng, má càng ửng hồng, người ấy mới bỏ đi lẩm bẩm "Da thật, là da thật". Nghĩ đến chuyện ấy ông tủm tỉm cười nhìn theo bà đang nhoăn nhoắt đi ra mấy luống rau. Bà mát tay chăm nên luống nào cũng tốt bời bời. Hai ông bà ăn không hết, lại cùng nhau hái rồi chia sẵn vào từng túi đem cho mọi người. Mà công nhận đôi dép bà chọn thật xinh, trông nó hợp với bà lắm. Chỉ có điều từ ngày có đôi dép mới, hễ bà ra vườn là ông lo nơm nớp. Bà bước một bước là ông làm như vô tình theo sau một bước. Mấy lần bà suýt ngã may có ông đỡ kịp. Mỗi lần như vậy ông lại bảo bà bỏ đi nhưng bà vẫn không nghe. Tính bà vẫn thế, mấy chục năm rồi chẳng khác. Việc ông chiều bà, mấy chục năm nay cũng vẫn vậy, chẳng khác.

Chiều, khi mặt trời uể oải tuột xuống ngọn những rặng tre bà mới thong thả đi tắm. Hai thùng nước giếng ông xách sẵn từ trưa đã lặng như gương, nước trong văn vắt. Trước mỗi lần đi chợ về, bà đi thẳng ra giếng, dội nước ào ào cho thoả cơn nóng nhưng chừng mười năm nay bà không chịu nổi cái lạnh. Bà vào nhà tắm, ông cầm cái khăn theo. Chiếc khăn đã tuột hết bông chỉ còn lại lớp sợi nhưng bà vẫn thích, bà bảo kỳ vừa mềm, vừa sạch. Từ hồi lấy nhau đến giờ, hễ ông đi vắng thì thôi, chứ ở nhà kiểu gì ông cũng kỳ lưng cho bà. Với ông bà đấy là khoảng thời gian bình yên, rảnh rỗi nhất trong ngày để ông bà nói chuyện. Bao chuyện trong ngày lúc bà đi vắng, chuyện làng, chuyện xóm, chuyện nhà, ông cứ rủ rỉ kể cho bà nghe. Ông kém bà chưa đến một tuổi nhưng ai cũng khen ông trẻ. Bạn ông đến nhà toàn trêu "Thành ơi, chị gái đâu rồi". Ban đầu bà cũng giận nhưng sau chỉ cười. Có gì mà buồn bực, lấy được chồng trẻ, đẹp trai lại hết mực thương yêu bà, bà còn mong gì hơn nữa. Có với nhau đã bốn mặt con nhưng chưa một lần ông nặng lời với bà, chuyện vợ chồng đánh lộn cãi chửi nhau tuyệt nhiên chưa một lần ông bà trải qua. Mỗi lần bà to tiếng, ông chỉ chắp tay đằng sau đi sang hàng xóm chơi lẩm bẩm: "Cho bà ấy ở nhà một mình, muốn nói gì thì nói". Cả xóm bảo chỉ có bà là sướng nhất. Ngoài việc đi chợ bán hàng, về nhà bà không phải động tay vào bất cứ việc gì. Mọi việc đã có ông lo liệu. Nhất là từ khi ông nghỉ hưu, ba cô con gái đi lấy chồng, cậu con trai duy nhất thì làm ăn xa, ông lấy việc chăm sóc bà làm niềm vui. Ông vẫn bảo với bà: ăn ở phải có đức thì sau mới được hưởng phúc. Có lẽ thế nên ở với ông bao năm nhưng bà chưa từng thấy ông xích mích với ai bao giờ. Bà Vân Tịnh cãi nhau với cả xóm. ai động chạm mảy may bằng cái móng tay thôi là bà Vân cũng chửi. Có lần vì hiểu lầm nhỏ ngày nào bà Vân cũng chu chéo chửi sang. Bà bực lắm định nói lại vài câu nhưng ông cản, chỉ thủng thẳng: "Tiếng chửi là tiếng hát, chỉ cái tát mới thấy đau". Mọi điều lành trong nhà cũng theo ông mà rủ nhau tìm đến.

Xóm này đã quen với tiếng dép loẹt quẹt của ông vào mỗi sớm. Ông có thói quen tỉnh giấc từ tinh mơ. Rồi hai tay khoanh trước ngực, ông đi dọc từ đầu xóm đến cuối xóm. Mọi người vẫn trêu rằng ông Thành thuộc đội an ninh khu phố. Đi "trinh sát" một lượt, ông mới về nấu cơm sáng mang ra chợ cho bà, quay về rửa bát rửa đũa rồi lại đạp xe ra mãi chợ Bách Lẫm cách nhà đến 5 cây số để mua con cá chép, mớ tôm trứng về kho dừ đợi bà về ăn. Bà vốn kỹ tính, bà chê cơm hàng cháo chợ, thành thử ngày nào ông cũng đều đều cùng chiếc cặp lồng cơm ngày ra chợ đôi lần. Ở xóm, ông vốn thân thiện, nhà nào có việc ông sắn tay vào giúp như việc nhà mình, từ bắc dây điện, đào giếng, đến đóng chuồng gà, hễ có lời nhờ là ông giúp không nề hà bất cứ chuyện gì. Cả xóm quý ông, mến ông. Ông đi vắng, ngày nào cũng có người tìm hỏi, bà nổi cáu: "Hỏi nhiều. Tôi mong ông ấy còn hơn các ông, các bà".

Bà được cái nhanh nhẹn, tháo vát. Thời bao cấp khó khăn, bà bỏ thương nghiệp về nhà chạy chợ, lo cho bốn đứa con ăn học, công to việc lớn đằng nội, đằng ngoại một tay bà thu vén. Bà vốn khẩu xà tâm phật, bề ngoài chao chát nhưng trong bụng thì xởi lởi, không tiếc ai thứ gì. Nhà ông nghèo nhưng ai bà cũng quý trọng. Bố ông chỉ ao ước đôi cánh áo gụ, bà sẵn sàng đem bán đôi khuyên vàng là của hồi môn đi may áo biếu ông. Mẹ ông ra chợ chơi với bà, bà hiếu lễ, một điều mẹ, hai điều con, lúc quả xoài, lúc cốc chè đỗ đen thơm mùi dầu chuối khiến bà cụ mát lòng mát dạ. Đến lúc gần mất, hai bàn tay bà cụ cứ khư khư ôm lấy cạp quần. Con cháu nói thế nào cũng nhất định không chịu bỏ tay, chỉ một hai đợi bà về. Lúc bà về đến nơi, mọi người đứng vòng quanh tò mò đợi xem bà cụ giấu gì cho con dâu mà kỹ thế. "Bầm, con về rồi". Nghe tiếng bà, bà cụ trở nên linh hoạt, ra hiệu cho bà lại gần, từ từ lật bàn tay ra, thều thào: "Cầm lấy, mẹ mày cầm lấy". Bà rơm rớm lần cạp quần bà cụ. Cả xấp tiền nhưng cộng lại chưa đầy năm chục bạc. Bà rớt nước mắt cầm nắm tiền trong tay nhìn mẹ chồng từ từ ra đi với nụ cười nhẹ nhõm.

Đôi dép - ảnh 1
(Ảnh Internet)

Bà nửa nằm nửa ngồi trên chiếc ghế mây ông mua cho bà để xem ti vi cho đỡ mỏi. Ông ngồi bên nhâm nhi từng ngụm nước vối. Bà đặc biệt khéo khi hãm nước vối, nước xanh, vị thanh, lại mát. Ông uống mãi đâm nghiện. Ngày nào không được ngụm nước vối của bà ông cứ thấy nhạt mồm, nhạt miệng, không yên. Xem thì xem đấy nhưng thi thoảng bà lại quay sang nói vài câu bâng quơ với ông. Đột nhiên ông gọi bà nhăn nhó: "Bà này, cái lưng tôi sao đau quá. Đau vẹo cả xương sống, không ngồi được thế này". Bà nhổm người sang phía ông: "Sao thế? Ông lên giường nằm tạm một lúc". Chưa kịp dứt câu thì ông đã nằm vật ra ghế. Bà vội điện cho con rể mang xe đến đưa ông vào viện. Bà bị tim, huyết áp lại thêm chứng pazơđô nên các con nhất quyết không cho bà vào viện. Sớm hôm sau cô con thứ mới chở bà vào thăm ông. Lúc bà vào đến cửa cũng là lúc điện não đồ của ông xuất hiện đường đẳng nhiệt. Hơi thở của ông yếu dần, chân tay mềm nhũn. Ông rơi vào trạng thái chết lâm sàng. Tiếng kêu khóc váng phòng. Bà lao đến cầm tay ông lắc gọi: "Anh Thành ơi, anh bị làm sao thế này". Phép mầu như vụt đến. Ông dần tỉnh lại, khẽ mở mắt nhìn bà. Ở bên ông được nửa buổi, bệnh viện chỉ định ông phải về điều trị ở Hà Nội do trường hợp hở van tim của ông quá nặng. Song cả nhà giấu nhẹm không cho bà biết bệnh thực của ông, chỉ nói ông bị tim biến chứng khiến chân bị liệt phải về Hà Nội mổ. Lúc đặt ông lên cáng, chuyển lên xe, ông khẽ vỗ vỗ vào tay bà: "Bà không phải lo đâu. Tôi về dưới đấy người ta mổ chân cho tôi. Mấy ngày khỏi rồi tôi về". Bà sụt sịt, bám theo xe ông dặn: "Ông cố gắng điều trị lấy mấy hôm rồi về".

Ông đi chữa bệnh, bà nóng ruột đứng ngồi không yên, lúc nào bà cũng nghĩ đến ông. Từ ngày ông đi, ngôi nhà trở nên trống trải. Màn hình ti vi đen ngòm. Ở nhà toàn ông bật sẵn, bà xem kênh nào ông bấm chuyển. Không có ông, bà không biết điều khiển cái ti vi ra làm sao nữa. Bà đi ra đi vào, ăn chẳng thấy ngon, ngủ toàn giật mình tỉnh giấc. Nửa đêm bà thấy ông về. Ông giơ tay vén cửa màn. Mặt ông trắng bợt. Ông nhìn bà chăm chăm, dặn đúng một câu "Bà nhớ giữ sức khoẻ" rồi buông màn đi ra phía cửa ngách. Bà nằm nhìn theo ông mà không tài nào ngồi dậy được để mà chạy theo hỏi xem ông bệnh tật thế nào, có đỡ nhiều không. Cơ thể bà như bị buộc cứng vào chiếc giường không sao nhúc nhích. Bà giật mình tỉnh dậy, trán vã vượi mồ hôi. Chưa bao giờ bà lại mơ một giấc mơ kỳ lạ như thế. Bà có cảm giác không yên. Bà bấm máy điện cho con, nhưng không thấy đứa nào nghe máy. Rồi bà nghe có tiếng gõ cửa. Đêm hôm ai lại đến tìm bà. bà run run lần ra phía cửa. "Ai đấy?". Có tiếng người nói vọng vào: "Chị Loan ơi, chúng em đây, chị mở cửa cho chúng em". Bà nhận ra giọng của dì năm, dì sáu mới dám rút then cửa. Thấy hai dì đột ngột đến nhà, bà lo lắng: "Nửa đêm các dì đến có việc gì thế?". "Chúng em sợ chị ở nhà một mình buồn nên đến ngủ với chị thôi". Bà càng thấy lạ. Bao năm nay có bao giờ các dì lại cùng đến ngủ với bà đâu. Bà gặng hỏi nhưng hai dì cứ nói quanh rồi lảng sang chuyện khác. Lát sau điện thoại réo vang, tiếng thằng Linh khóc tu tu bên đầu dây: "Bố mất rồi mẹ ơi". Bà nghe như sét đánh ngang tai, thót gan, thót ruột. Thấy bà chực gã, hai cô em dì vội chạy lại đỡ bà vào giường ngồi. Linh tính điềm chẳng lành đã thành hiện thực. Bà chạy ra đường gào khóc, như thể ông vừa mới đi ra đó. Bà vừa chạy vừa gọi: "Anh Thành ơi, sao anh lại bỏ em mà đi". Mọi người ngơ ngác không hiểu có chuyện gì mới hỏi: "Ông Thành đi đâu hở bà?". Bà nức nở: "Ông nhà tôi mất rồi". Mọi người ngã ngửa, lục đục gọi nhau dậy kéo sang nhà bà, khiêng chiếc giường ông vẫn nằm trong buồng ra gian ngoài để đón ông. Bà lăn ra bất tỉnh. Trong cơn mê sảng bà không ngớt chửi bới mấy đứa con không chịu cho bà biết sự thật. Bệnh viện trung ương đã chuyển trả ông về bệnh viện tỉnh hơn hai ngày nay mà không một ai chịu nói cho bà biết, không đứa nào chịu đưa bà vào với ông, không cho bà nhìn ông, nói với ông một lời nào cả. Chắc cứ thế bỏ đi không đành nên ông mới hiện về mà gặp bà đấy thôi. Cứ tỉnh là bà gọi tên ông, kiệt sức bà lại lịm đi không hề hay biết. Tổ dân phố xúm vào mỗi người một chân một tay như thể nhà họ có đám. Hai đêm liền cả xóm gần như thức trắng, ngồi kín hai bên đường từ nhà bà ra tận đầu xóm. Mắt ai cũng đỏ hoe. Họ thương ông tốt người tốt nết, vậy mà đi đột ngột, không để cho ai chào một tiếng.


*

Sau đám tang ông, bà ốm cả tháng. Con cháu chạy vạy khắp nơi lo thuốc thang cho bà. Có thời gian bà gần như lẫn thẫn, nhớ nhớ, quên quên. Nhiều hôm đi tắm bà vẫn gọi "Ông ơi, kỳ cho tôi cái lưng". Không thấy ai trả lời bà mới chợt nhớ ra ông không còn nữa. Mấy cô con gái bàn nhau đưa bà về ở cùng mỗi đứa một thời gian cho khuây khoả song bà không nghe. Bà muốn ở lại với những gì gần gũi nhất. Từ con dao thái thịt, cái nạo mướp đến cái ti vi, đâu cũng có dấu tay ông. Trời mới nhập nhoạng tối mà con đom đóm to bằng đầu ngón tay trỏ cứ vòng ra vòng vào rồi bay vào buồng ngủ của ông bà, đậu ngay trên đầu giường chỗ trước kia vẫn để chiếc đài chạy băng ông mua cho bà để nghe kinh Phật mỗi khi đi ngủ. Bà giật mình lẩm bẩm: "Thôi chết, tôi có lỗi với ông rồi. Đúng là tôi có đem cho chiếc đài của ông. Dưng mà tôi cho chú Thao, em trai ông chứ có cho ai. Rồi, tôi biết rồi, tôi sẽ thắp hương xin phép ông". Nén hương vừa đỏ lửa thì cũng là lúc con đom đóm sà vào vai bà rồi bay thẳng ra phía cửa. Bà nhìn vào di ảnh ông tủm tỉm: "Cái ông… rõ là…".

Trăm ngày ông, cả bốn đứa cùng về. Cơm nước xong xuôi cô cả mới đặt lên bàn một cuốn sổ tiết kiệm nói với bà: "Hồi bố còn sống, tiền lương sau khi chi tiêu bố gửi tất lên cho con gửi tiết kiệm, phòng mẹ có mất trước còn có tiền lo liệu. Nay bố mất rồi, thời hạn gửi cũng vừa tròn, con rút ra gửi lại mẹ". Bà rưng rưng cầm cuốn sổ. Lúc ông còn sống, bà cứ trách ông không biết bòn góp, có đồng nào tiêu hết đồng ấy, chả chịu dành dụm phòng lúc ốm đau. Ông chỉ cười qua quýt: "Lúc chết có mang được đi mà giữ". Bà lấy gấu áo quệt dòng nước mắt chảy ra từ đôi mắt đã chuyển màu mờ đục. Sao ông không để bà đi trước. Khi còn sống lúc nào ông cũng chiều bà, nhường nhịn bà mọi nhẽ, sao ông không chịu nhường bà nốt lần này đi. Nhưng nếu bà đi trước, biết đâu, ông còn buồn, còn đau hơn cả bà lúc này nữa. Thế thì khổ cho ông quá. Bà khóc hu hu như đứa trẻ. Các con bà không hiểu, cho rằng bà đã đến tuổi lẫn cẫn. Đêm ấy ông lại về tìm bà trong giấc ngủ. Bà không nhìn rõ mặt ông như lần trước, chỉ thấy cái dáng cao gầy, đang lom khom đi về phía giường bà. Ông đứng tần ngần trước đầu giường bà một lúc lâu rồi mới nói: "Thôi chào bà, tôi đi đây". Từ đấy không một lần nào ông về với bà nữa.

Bà có bốn đứa con nhưng chỉ có thằng Linh là trai. Hiềm nỗi vợ nó lại chỉ có duy nhất một cô con gái. Bà buồn nhưng cũng nghĩ con cái là của giời cho. Ông giời đã không cho thì có cố cũng chẳng được. Nhưng xem ra thằng Linh nào có chịu yên. Dạo này bà nghe mấy chị nó nhỏ to rằng nó đang cố kiếm một thằng con trai để nối dõi tông đường. Bà không hỏi, bởi nó ở xa, biết thực hư thế nào. Bà tin có ngày tự nó sẽ nói cho bà biết. Tuần trước vợ nó về đây công tác, không thấy bà nói gì về chuyện con trai bà có lỗi mới to tiếng: "Mẹ, mẹ có biết không. Anh Linh, con trai mẹ có bồ rồi đấy". Bà ôn tồn: "Có gì con cứ nói khẽ, mẹ già nhưng tai mẹ vẫn nghe rõ lắm". "Mẹ cứ giả vờ không biết, chứ mọi người đều nói, anh Linh qua lại với con nạ dòng có hai thằng con trai. Chắc anh ấy muốn lấy nó để có luôn con trai đấy mà". Bà vẫn đủng đỉnh: "Sao con lại nói thế. Chồng con bồ bịch đâu mẹ không biết. Mẹ chỉ biết mẹ đi ô tô đến đón con, tay mẹ bê trầu, đầu mẹ đội lễ. Mẹ chỉ có con là con dâu, còn người khác mẹ không nhận". Con dâu bà im bặt, không dám nói thêm lời nào, từ đấy chỉ thêm quý, thêm trọng bà.

Mấy nay dở giời, bà thấy người khó ở. Bà điện cho thằng Linh về với bà. Bà muốn trao toàn bộ giấy tờ đất đai nhà cửa cho nó, để sau còn hương khói. Ba đứa con gái, đứa nào cũng đã có phần. Hồi ông bà còn khoẻ, bao nhiêu của cải làm ra ông bà đều com cóp tích trữ; đứa nào đi lấy chồng ông bà cũng cho chút của hồi môn, không đứa nào hơn đứa nào cả. Chỉ còn miếng đất này ông bà quyết giữ cho thằng Linh. Bà biết chắc nó sẽ chẳng về đây ở bởi công việc, nhà cửa, vợ con nó ở hết trên Lào Cai, nhưng nó là con trai duy nhất, bà phải giao lại cho nó. Vậy mà sau khi nghe rõ ý nguyện của ông bà, nó lại buông một câu làm bà chưng hửng: "Con không lấy đâu. Mẹ có bán thì con mua". Chỉ vì câu nói ấy mà bà giận nó hàng tháng trời. Nhưng mặc cho bà dằn dỗi, nó vẫn không chịu nhận ngôi nhà. Chỉ đến khi bà chịu ký vào hợp đồng mua bán nhà, nhận đủ số tiền nó đưa, nó mới rành rọt nói với bà: "Căn nhà này bố mẹ phải vất vả cả đời mới có được. Nhà có bốn chị em, con nào cũng là con. Con không muốn vì mình là con trai mà nghiễm nhiên hưởng hết. Con muốn mẹ bán để có chút lộc chia đều cho con cho cháu…". Nghe thằng Linh nói, bà giãn gan, giãn ruột. Mấy trăm triệu bà đem cho cháu nội, cháu ngoại, rồi cho nó một phần. Cuối cùng đâu cũng vào đấy. Nửa số tiền bán được cũng lại cho vào bố con nhà nó thôi nhưng bà hởi lòng, hởi dạ. Thằng Linh của bà bây giờ đã trưởng thành, đã biết lo nghĩ không phải để cho ông bà phải long đong, lau nước mắt vào tù thăm nó vì tội đánh người như mấy chục năm về trước. Sau đó thằng Linh quyết định cắt nửa số đất cho con trai chị gái cả để nó ở cạnh tiện chăm bà. Bốn mét còn lại, trước mắt bà ở, sau sẽ giữ làm nhà gốc để còn hương khói. Nó còn khoe với bà, nó đang kỳ công cho xây một phòng trưng bày của gia đình. Rồi tất cả những đồ đạc của ông mà bà đang giữ, từ những bộ quần áo mà ông thích mặc, đôi dép mà ông hay đi, chiếc mũ mà ông vẫn đội, sau này nó sẽ mang tất lên đấy, treo vào tủ để nó, vợ con nó hàng ngày vào ngắm mà nhớ đến ông…

Thế rồi tội tình cũng từ đôi dép mà ra. Giờ đang giữa tháng sáu âm nhưng do nhuận một tháng nên trời ngâu suốt. Mấy ngày liền mưa tầm tã không ngớt. Đám rêu gần giếng cứ trơn tuồn tuột. Bà đã định đi đôi dép nhựa con cả mua cho hôm trước nhưng nhớ đến ông, bà lại xỏ chân vào đôi dép nâu đi ra vườn. Rõ khổ, trời mưa nom lũ gà đến tội. Con nào cũng ướt lướt thướt, diều lép kẹp, nhảy ra nhảy vào tìm cái ăn. Bà xúc bát thóc lần ra phía chuồng gà quải cho chúng ăn. Đang rờ rẫm thì oạch một cái, mắt mũi bà tối sầm. Bà chỉ kịp chống tay trái xuống đất để khỏi bị đập mặt xuống. Bà gượng đứng dậy đi vào nhà. Cái cổ tay ban đầu chỉ hơi đau đau, bà bóp cao được một lúc thì nó cứ thế sưng vù lên. Hôm sau con cả đưa bà vào viện chụp chiếu thì bác sỹ bảo bà bị bong gân. Thế là đống thuốc nam được thể nằm chình ình trên cổ tay bà mấy ngày liền. Chỉ khổ cho mấy đứa con, đứa cháu, bận công việc mà suốt ngày cứ phải điện đóm, rẽ ngang, rẽ dọc để thăm nom bà.

Ngồi một mình trong căn nhà vắng, bà vuốt ve từng cái giường, cái tủ, rồi ngả người lên chiếc ghế tràng kỷ đã lên nước đen bóng. Tất cả những đồ đạc này là nhờ hồi mới cưới, ông bà được phân hai khối rưỡi gỗ dâu đen, ông bà khấp khởi đặt thợ đóng, xoi xét từng ly từng tý rồi gắn bó với nó đến nay đã bốn chục năm có lẻ. Bà lần ra phía ban thờ, thắp thêm một nén nhang. Khuôn mặt ông vẫn thân thuộc như ngày nào. Nhìn đôi mắt ông như đang cười với bà, lòng bà thêm ấm áp. Bà thì thầm nói chuyện với ông: "Ông ơi, ông biết tính tôi rồi đấy. Bình thường con nó có trách tôi cũng mặc. Đôi dép này gắn với tôi và ông nhiều kỷ niệm lắm. Tôi không bỏ nó đi được. Nhưng thôi từ hôm nay tôi sẽ cất nó đi làm kỷ niệm, kẻo ngã lần nữa lại khổ con cái ông ạ.".

Từ lúc cất đôi dép vào tủ, bà cứ thấy mệt trong người. Rồi bà ốm nặng, không nhúc nhích đi lại được. Đôi lúc bà có cảm giác nghe rõ tiếng ông gọi, giục bà đi theo. Tấm hình ông bà chụp chung treo trên tường cứ vật vờ trong trí nhớ. Thi thoảng bà đưa mắt ra phía ngoài cửa, nơi cây ngọc lan già cỗi đã ở đó với ông bà mấy chục năm nay. Thân cây đã mốc thếch, cành xù xì, khẳng khiu. Đáng lẽ mùa này đang trổ hoa trắng muốt, hương thơm ngào ngạt nhưng từ hồi ông mất hoa nở cứ thưa dần. Mấy bữa nay, cây ngọc lan già đồng loạt đổ lá vàng, cành lá ủ rũ. Mặc dù con cháu thay phiên nhau tận tình chăm sóc nhưng sức bà cứ yếu dần. Cả ngày bà chỉ húp được nửa bát cháo loãng. Thấy bà khó ở, con cháu các nơi lục đục kéo về. Đến ngày thứ tư thì chúng nó về đông đủ. Tất cả đứng vây quanh, đứa quạt, đứa xoa bóp chân tay cho bà. Bộ ngực lép kẹp của bà nhô lên nhô xuống theo từng nhịp thở chậm chạp nhưng khuôn mặt bà vẫn hồng hào rạng rỡ. Bà cầm tay con cả, con thứ, thằng ba, con út rồi dặn dò từng đứa cháu. Bà chỉ vào chiếc hộp gỗ khảm trai để trên ban thờ, trong đó có bản di chúc bà đã làm sẵn. Số tiền còn lại sau khi bán nhà bà lại chia đều cho các cháu. Còn một chút bà dành riêng để lo hậu sự khi bà nằm xuống. Thấy con cháu nước mắt ròng ròng, bà xua tay: "Đừng khóc, đã đến lúc mẹ phải đi thăm bố con. Lâu quá rồi…". Nói rồi bà chầm chậm rụt hai bàn tay về, bắt chéo để lên bụng. Mặt bà hướng về phía ban thờ, nơi ông của bà đang ở trên đó. Ánh mắt bà phút chốc rời thực tại. Bà nghĩ đến một ngày đôi xép xốp màu nâu của bà sẽ ngay ngắn nằm sát cạnh đôi đép nhựa giả da của ông trong chiếc tủ kính trên tầng thượng nhà thằng Linh. Bà khẽ mỉm cười mãn nguyện. Mi mắt bà nhẹ tênh rồi từ từ khép lại…

Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Yến

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại