Người mở đất
18-08-2015 10:56


Tôi đã đến hai bờ Hạc Hải nhiều lần. Có khi bên này Hồng Thủy. Có khi bên kia Lộc Thủy. Nhưng chẳng thấy đâu mặt nước mênh mông. Chẳng thấy đâu bóng chim, tăm cá. Chẳng thấy đâu năn lác bời bời. Chỉ thấy những cánh đồng nối tiếp những cánh đồng. Xanh thì xanh ngút mắt. Vàng thì vàng rợn ngợp chân trời. Bùi Hữu Sơn- trưởng thôn An xá, xã Lộc Thủy dẫn tôi đi giữa màu xanh ngút mắt ấy vào một trưa dát nắng. Lúa tái sinh đang kỳ vào chắc. Bông lúa nặng hạt. Chẽn lúa uốn cong. Những ngọn gió lẻ lướt qua cánh đồng, lúa dập dờn như sóng, rì rào như hát. Không gian mát và thơm. Mùi nắng. Mùi lúa. Bùi Hữu Sơn nói rằng: Cánh đồng này được anh trồng lên từ mặt phá. Phá xưa giờ đã nên đồng. Phá không còn vẻ mênh mông biển dã mà có đoạn là một mặt hồ phẳng lặng, lại có đoạn mang dáng hình một dòng sông uốn lượn thư nhàn giữa hai bờ lúa bát ngát.

Thời Trịnh- Nguyễn phân tranh, ông tổ họ Bùi của Bùi Hữu Sơn trên đường di cư từ Bắc vào Nam, gặp được vùng đất tụ thủy này, đã dừng bước chân tha hương quần tụ quanh vời*. Hàng trăm năm nay hậu duệ họ Bùi Lộc Thủy sống nhờ vời. Chết cũng được nằm bên vời. Với truyền thống của dòng họ, Bùi Hữu Sơn chân chất là một nông dân chuyên nghiệp của xứ đồng Lệ Thủy, từ giọng nói đến dáng đi, từ tâm tính cốt cách đến phong thái diện mạo. Thiệt thà, chất phác như đất đai. Nhưng cũng quyết liệt, khẳng khái như nắng gió. Gặp Bùi Hữu Sơn và nói chuyện cùng anh mới nhận ra một điều cốt tử của đất và người Lệ Thủy: Sự gắn bó hòa quyện và cả xung đột giữa con người với thiên nhiên là động lực cho sự phát triển nơi đây. Con thuyền lá tre mỏng mảnh trôi êm những cánh đồng trĩu hạt hứa hẹn một mùa tái sinh bội thu, Bùi Hữu Sơn vẫn bồi hồi nhớ về những năm tháng xưa xắc. Theo con số cũ, khởi nguyên Hạc Hải rộng cả ngàn héc-ta, độ sâu dao động từ 1,5 đến 3m, là nguồn thủy sinh lý tưởng cho các loài hải sản, thực vật nước lợ sinh sôi phát triển. Chim trời, cá nước đủ cho người Kẻ Thá, Kẻ Tuy và các vùng phụ cận vượt qua những tháng ngày đói khó. Đúng như sách Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An đã chép: “Bể Cạn, tên gọi Bình Hồ (...) gọi là Hạc Hải. Phía Đông Bắc bể xanh bát ngát, cồn cát chập chùng. Phía Tây Nam ngàn núi thẳng như bình phong, trăm non dựng như ngọn giáo, mênh mông bể hạc - leo lẻo dòng trong, cá tôm sinh sản - le vịt lội bơi. Chài ngư thuyền củi đi về, dật khách du nhân lui tới. Hồ sơn một cảnh trăng gió lưng bầu, coi hệt thế giới ngũ hồ vậy...”. Đất Lệ Thủy là đất sinh sôi, từ ruộng sâu, ruộng cạn, lúa cao, lúa thấp lớp lớp mọc lên, cá tôm ốc ếch, năn lác rong rêu... không bao giờ thưa vắng. Tất cả những gì của phá đều hữu ích cho nhà nông. Tuy nhiên, do nhu cầu bức bách về nguồn lương thực để cung cấp cho miền Bắc và chi viện cho chiến trường miền Nam, năm 1973, tỉnh Quảng Bình xây dựng đập thủy lợi Mỹ Trung nhằm ngăn mặn, giữ ngọt, đảm bảo ruộng đồng hai huyện Lệ Thủy, Quảng Ninh cho mỗi năm 2 vụ ăn chắc, đồng thời ngọt hóa phá để mở rộng diện tích trồng lúa. Đây là 1 trong những công trình thủy lợi lớn trên toàn miền Bắc lúc bấy giờ. Nhưng môi trường sinh thái của phá Hạc Hải thay đổi từ đây. Bùi Hữu Sơn nói rằng, Hạc Hải đã chia hai hàng chục năm nay rồi, Hạc Hải khác xưa rồi vậy mà nhân dân quê anh vẫn thế. Chỉ ăn hột gạo đồng mình, ăn con cá, con tôm ngoài vời, dù nhỏ một tí, ít oi một tí nhưng là cái vị mặn mòi đậm đà của đồng đất Lệ Thủy, vẫn hương vị trong lành của nắng gió Lệ Thủy. Đến làng An Xá một ngày gần đây, khi phá Hạc Hải chỉ còn trong ký ức, tôi vẫn thấy đời sống đầm phá thấm đẫm trong mỗi nếp nhà, trong mỗi hồn người. Nò, đáy, nơm, chẹp, oi, trúm... treo lủng lắng đầu hồi. Năn, lác rẽ quạt phơi trên sân nhà. Rơm rạ, rong rêu quấn quýt mỗi hiên nhà. Con người và cảnh sắc nơi đây hiền hòa dung dị và gần gũi khôn cùng.

Người mở đất - ảnh 1
Phá Hạc Hải (ảnh quangbinh.gov.vn)


Chuyện với Bùi Hữu Sơn về sự nghiệp mở đất của anh, Sơn cười: “Cái khó nó ló cái khôn thôi mà! Ngày tôi cởi bộ quân phục ra và trở lại là một nông dân, đất đai chẳng còn. Cả nhà chỉ vỏn vẹn vài sào ruộng khoán. Con thơ. Vợ dại. Kiếm đồng tiền để nuôi cả nhà trong những tháng ngày ấy khốn khổ vô cùng. Thời điểm ngặt nghèo nhất tôi phải làm cả những việc trái pháp luật là rà cá bằng xung điện... Phập phù như ngọn đèn trước gió! Ngày đông tháng giá, mưa gió dập vùi, đêm nằm vắt tay qua trán nghĩ mãi không ra. Đi buôn, mình chẳng có vốn. Đi làm thợ, mình chẳng có nghề. Sáng mở mắt ra là cần phải có gạo. Phải bắt đầu từ gạo. Tôi đi tìm đất. Những thẻo đất lùm lòi hoang hóa không ai nhòm tới, tôi ra khai hoang, đắp đập, be bờ trồng lúa. Cách đây mươi, mười lăm năm có đủ gạo ăn là một thử thách. Để có thêm đất tôi lần ra phá. Đất đai ở đây chứ ở đâu? Vậy là bắt đầu những tháng ngày lặn ngụp. Đắp rồi trôi. Trôi rồi đắp. Nhiều người dè bỉu tôi: Ai đời mang sức người đi đấu với thiên nhiên.?! Họ kể cho tôi nghe câu chuyện của một người họ Bùi cách đây ngót thế kỷ thay cho lời cảnh báo. Đó là nhà tư sản Bùi Huy Tín và ý tưởng táo bạo đắp một con đê dài nhằm ngăn đôi phá Hạc Hải, ngọt hóa nửa phá phía tây để trồng lúa. Cuộc đấu tranh giữa con người với thiên nhiên do Bùi Huy Tín khởi xướng như sự đối đầu của ngày và đêm. Ngày con người đào đất đắp đê. Đêm sóng gió sinh lầy kéo vỡ. Mặt nước bao la của phá Hạc Hải vẫn trêu người tham vọng của con người. Bất lực trước thiên nhiên, Bùi Huy Tín bỏ cuộc. Đến nay vẫn còn một đoạn đê do ông ấy đắp còn sót lại, cỏ cây năn lác mọc um tùm ở giữa vời. Nhưng tôi vẫn làm bởi lúc đó tôi không còn con đường nào khác. Lắm lúc như kẻ bị tự kỷ, chẳng để ý đến ai, đầu óc quay cuồng với những con nước trắc nết của phá Hạc Hải.

- Tiền nhân đã thất bại. Còn anh đã thành công!

- Tôi có sự trợ giúp của đập Mỹ Trung. Dù sao có đập ngăn, con nước cũng đỡ hỗn. Ông Bùi Huy Tín tiền nhiều, người đông, ông ấy đắp cả con đê kéo từ múi phía Bắc phá sang đến An Lạc. Như vậy là quá dài. Tôi sức hèn, phận mọn, không có tiền của nhiều để thuê mướn người làm thủy lợi nên chỉ đắp những con đê ngăn ngắn mong có được những miếng ruộng nho nhỏ thôi. Xem ra như thế lại hiệu quả.

Giữa lồng lộng nắng gió Hạc Hải, phóng tầm mắt từ miệt Hoa Thủy xuống đến Gia Ninh, Võ Ninh cây lúa đang lên xanh ngút ngàn. Bùi Hữu Sơn nói rằng: Để có được cánh đồng này, nhân dân 8 xã sống quanh Hạc Hải đã bỏ ra hàng trăm ngàn ngày công làm thủy lợi với hàng chục tỷ đồng. Riêng thôn An Xá quê anh có 15 gia đình tham gia lấn phá. Trong vòng 10 năm từ 2005 đến nay, cả thôn mở rộng được 13ha đất trồng lúa từ phá Hạc Hải. Trong đó gia đình anh có 3,5ha. Theo thống kê sơ bộ, hiện nay diện tích đất trồng lúa ven phá Hạc Hải của hai huyện Quảng Ninh, Lệ Thủy đã lên đến hơn 600 ha/ tổng diện tích mặt nước của phá là 800 ha. Như vậy là sau khi được lúa hóa, phá Hạc Hải chỉ còn lại 200ha. Vẫn còn rất nhiều ý kiến của các nhà khoa học chuyên ngành và những ai quan tâm đến Hạc Hải băn khoăn về số phận của phá Hạc Hải, tựu trung chỉ mong có một giải pháp có lợi nhất cho môi sinh, môi trường, nhưng với người nông dân sản nghiệp lớn nhất của đời họ là đất đai thì vấn đề được quan tâm nhất vẫn là những gì thiết thân nhất, cụ thể nhất.

- Khổ lắm! Mỗi lần nhảy xuống nước đắp đê ai nấy đều lem nhem như lính đặc công hóa trang để vào trận.

- Vì sao?

- Bọn tôi phải mua dầu luyn bôi kín người để chống ngứa... Khó khăn vậy nhưng chưa chắc được việc. Ngày hỳ hục đào đắp. Đê cao quá mặt nước chừng một mét gặp lúc nước lên là đi tong... Nhiều khi nản ác! Nhưng chẳng hiểu sao nước cuốn trôi tôi lại đắp. Nhiều người bảo tôi điên cũng phải. Chỉ đến khi cánh đồng hiện hữu, cây lúa mọc lên, mọi người mới bắt đầu nhận thấy sự điên của tôi là có lý và bắt đầu ra vời theo tôi. Bây giờ thì tốt rồi, người ta lại nói “Mấy thằng làm vời là ngon ăn nhất” đấy! Gương mặt rám nắng nâu giòn của Bùi Hữu Sơn bừng lên một nụ cười mộc mạc.

- Có lẽ anh là một trong những hậu duệ xuất sắc của những người theo chân Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh đi mở cõi phương Nam?!

- ...

- Cách đây hơn 300 năm trước đã có một dòng người gánh gồng theo chân Lễ thành hầu hành phương Nam. Trong đó phần lớn là nhân dân Lệ Thủy, Quảng Ninh. Có phải vì ông nhận thấy rất rõ ý chí của người dân quê hương mà chiêu mộ họ theo mình vào Nam Bộ mở cõi. Họ phải là những người rất giỏi mới có thể chinh phục được vùng Đồng Tháp Mười rộng lớn thành ruộng đồng!

- Có sức người bùn đất cũng thành cơm mà!

Tôi bất ngờ khi Bùi Hữu Sơn đột nhiên bật lên câu thơ cải biên ấy. Rất thơ nhưng cũng rất thực tế.

- Làm chi cũng theo mùa. Quai đê lấn phá cũng phải có mùa. Thường thì mùa nước cạn là chúng tôi bắt đầu sự nghiệp lấn phá. Ăn ngủ với bùn đất. Hít thở với bùn đất. Nhiều đêm vừa chợp mắt được một tí là trợ dậy ngay. Vì sao biết không? Vì sợ nước! Có mùa lũ, nước từ thượng nguồn đổ về với lưu lượng mạnh cuốn trôi hai ba chục mét đê liền. Có những buổi sáng ra đồng, chẳng thấy đồng chỉ thấy nước. Đứng nhìn biển nước mênh mông mà trong lòng ngao ngán không biết để đâu cho hết. Nhưng trôi thì cứ trôi! Đâm lao thì phải theo lao thôi! Nói chung làm nông là cực trăm đường. Làm vời còn cực nhiều hơn nữa. Đó là chưa nói đến những vụ mùa lúa đã chín vàng, chuẩn bị vào vụ thu hoạch. Mưa ào xuống. Lũ dâng lên. Lúa chìm nghỉm dưới nước bạc. Thế là phăng teo bao nhiêu công sức tiền của...

- Nhưng cái được vẫn dành phần hơn...

- Được chứ! Được mới đeo bám đến chừ. Vấn đề là có đủ kiên trì nhẫn nại để chiến đấu với thiên nhiên không thôi.

Bùi Hữu Sơn dẫn tôi đi một vòng quanh những thửa ruộng nhà anh. Đê bao như những con rồng đất dài nối dài vững chãi. Đê quai ra đến đâu ruộng đồng mở rộng ra đến đó. Trong 10 năm, chỉ với sức người Bùi Hữu Sơn đã đắp được 1600 mét đê bao lấn phá, quy hoạch thêm cho gia đình 3,5ha ruộng lúa hai vụ ăn chắc. Sơn nói: Anh tuổi Thìn, mạng thủy. Chắc có lẽ vậy nên anh hạp nước. Để có được mấy ha ruộng như hôm nay không đơn giản. Đê đắp được rồi cũng chưa chắc là đã xong. Theo thiết kế kỹ thuật, đê phải được đắp cao khoảng từ 1,6 đến 1,7m, chân đê từ 1,1 đến 1,5m, chỉ số dương từ mặt nước trở lên phải đạt trên 1,3m. Như vậy mới mong trụ vững trước sóng gió phá Hạc Hải và lũ lụt hàng năm. Do đó công tác gia cố bồi trúc phải được tiến hành thường xuyên. Tiền của đổ vào đây không nhỏ. Có những mùa nắng hạn, mặt đê khô nứt. Nhìn tưởng chắc chắn lắm nhưng thực chất đang tiềm ẩn một nguy cơ. Bởi chân đê ngâm nước đã trở thành một thứ bùn nhão không thể trụ nổi phần đất khô cứng và nặng trịch ở phía trên. Vậy là ùm ùm sạt lở. Vá được đoạn này, đoạn kia đổ xuống... Điệp khúc ấy diễn ra hàng năm. Vất vả nhưng chưa một ai bỏ cuộc bởi hiệu quả thực tế mà ruộng vời mang lại.

Nắng như rót mật xuống cánh đồng. Óng vàng. Sóng sánh. Bùi Hữu Sơn vẫn rủ rỉ kể với tôi những thăng trầm của đời mình xung quanh thân phận của Phá Hạc Hải. Anh mang ơn Hạc Hải nhiều lần. Ngày thơ dại nhờ con tép con tôm của phá mà cha mạ anh nuôi anh lớn. Giờ đây anh cũng nhờ phá mà anh đưa gia đình mình vượt qua cơn bĩ cực. Mỗi năm thu hoạch 40 tấn thóc, giá trị bình quân hai đến hai trăm tư triệu đồng. Với nhà nông đó là con số lý tưởng. Bùi Hữu Sơn không mang ơn Hạc Hải sao đành?! Không sống chết với cây lúa sao đành?!

Mọi người gọi Bùi Hữu Sơn là người mở đất. Tôi gọi Bùi Hữu sơn là người vẽ cánh đồng. Mỗi con đê quai là một nét vẽ mềm mại. Cánh đồng cứ thế mở ra. Và bắt đầu biến ảo sắc màu theo đời lúa. Bây giờ thì bức tranh cánh đồng của Bùi Hữu Sơn đang chuyển màu. Ấy là lúc lúa bắt đầu vào độ chín.

Bút ký của Trương Thu Hiền

 

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại