Sóng nước Trường Sa
12-04-2015 10:51


Sáng ngày 2-5-2014, đoàn đi thăm và kiểm tra huyện đảo Trường Sa rời cảng Cát Lái trên sông Sài Gòn. Tôi nhẩm tính, có tới tám đơn vị, cơ quan tham gia, quân số đông, chia trung bình mỗi tỉnh được ba đại diện. Người ta bảo đi Trường Sa khó hơn đi Mỹ. Kể cũng phải. Hơn nữa, đi Trường Sa dẫu sao cũng là cuộc dấn thân, chiêm nghiệm cuộc sống quân dân trên đảo, nơi đầu sóng ngọn gió, nơi tuyến đầu Tổ quốc. Vẫn biết rằng so với muôn một gian khổ của quân dân biển đảo, chúng tôi như những kẻ cưỡi ngựa xem hoa, mới chớm một chút vị mặn của biển, của sóng, của nắng và gió. Thế cho nên tôi vẫn nghĩ chuyến đi này mang màu sắc một cuộc du hành - du hành công vụ - pha trộn cả ý thức trách nhiệm với sự háo hức bồng bột trước biển trời mênh mang phía trước.

Tàu đi từ sáng đến trưa mới tới Vũng Tàu. Những cụm bèo lục bình thưa dần, thưa dần. Từ đây tàu mới chính thức ra khơi. Chỉ có điều, đến tận tối sẫm, khi đã xa bờ cả trăm cây số, vẫn thấy những những chai thủy tinh, đồ nhựa, mảnh gỗ chập chờn, lấp loáng trôi nổi trên mặt sóng. Chợt nghĩ, cứ với đà này, chẳng biết ba mươi, năm mươi và trăm năm sau, biển sẽ ra sao?

Phòng B4 chúng tôi ở có bốn người, cao ngang bằng tầng ba, có đủ bàn ghế, nhà vệ sinh. Viện Văn học đi ba người thì có Tiến sĩ Phùng Ngọc Kiên ở cùng tôi, Thạc sĩ Trần Văn Trọng được điều chuyển xuống khu D. Lại có Tiến sĩ Nguyễn Bình Giang ở Viện Kinh tế và Chính trị thế giới. Cuối cùng là ông cốp Phó Giáo sư Tiến sĩ Ngô Đại Quang, Phó Tổng Tập đoàn Hóa chất Việt Nam. Hỏi ra mới biết là dân Hiệp Hòa, cùng đồng hương Bắc Giang, chỗ thân tình xa xưa với nhà phê bình Văn Giá ở trường viết văn Nguyễn Du. Ông này là dân tự nhiên mà thông kim bác cổ, chịu đọc sách truyện, xử thế giỏi, chỉ tội xẻ gỗ mạnh quá, át cả tiếng sóng biển. Mấy hôm sau tôi mới biết đây là phòng của các sĩ quan điều khiển máy, vì tàu đông người nên các anh tạm chuyển nơi khác, nhường chỗ ở đẹp cho đoàn.

Tàu đi hai ngày đêm trong cảnh trời yên biển lặng. Cũng có vài người yếu vía say sóng lơ đơ, loạng choạng. Chúng tôi sinh hoạt theo kiểu bộ đội. Sáng sớm, năm giờ đã có chuông reo và khẩu lệnh: “Toàn đoàn báo thức, báo thức toàn đoàn". Mới đầu nghe chưa rõ, thấy ngồ ngộ, sau quen dần. Ngày ăn tới bốn bữa, cả ca đêm 9 giờ. Mấy em ở đoàn Văn công Đồng Tháp xuống chung tay cùng các anh nhà bếp. Tiếng cười của bọn trẻ vang tới tận đêm khuya.

Sau hai ngày đêm, chúng tôi đến đảo Đá Lớn gồm ba điểm đảo. Thực chất đây vốn là những đảo chìm rồi được xây thành nhà nổi, thậm chí cao tới hai, ba tầng. Gọi là pháo đài cũng được. Biết bao công sức nhân dân cả nước, trong đó có phong trào góp đá xây Trường Sa. Nghe nói bây giờ không quá khó khăn như mấy năm về trước. Lính đảo vẫn trồng rau cải, rau muống, rau ngổ, rền tía, mồng tơi, rau thơm trên những thùng nhựa nhưng đã có thêm những tủ bảo ôn chứa đủ mấy loại củ quả, khoai lang, khoai tây, bí xanh, bí đỏ, khóm dứa, su hào, bắp cải. Dẫu sao giữa chốn biển trời sóng nước có thêm mấy khóm rau xanh, đàn gà và vài chú khuyển chạy đi chạy lại cũng thêm vui mắt, bớt đi nỗi nhớ quê nhà. Nước ngọt trên đảo quả là hiếm nhưng cũng đã được cải thiện phần nào nhờ vào cả hệ thống bể to, bể nhỏ. Vui chuyện, anh em kể, vài năm trước đã nghe nói đến việc chế tạo loại máy lọc nước biển thành nước ngọt cho đảo nhưng bây giờ vẫn đang trong giai đoạn lắp đặt thử nghiệm. Tôi nhớ có lần xem ti vi cũng thấy nói thế thật.

Suốt ngày chúng tôi ở trên đảo, gặp gỡ, chuyện trò với anh em bộ đội. Tôi chủ ý tìm hỏi xem có anh lính nào người miền núi không? Nhớ ngày còn nhỏ, chúng tôi sống ở miền rừng nhưng cũng bơi lội dữ lắm. Những ngày mưa nguồn đổ về, nước lũ cao lên ba bốn mét, thế mà lũ trẻ trâu chúng tôi vẫn bơi xuôi theo dòng nước xiết tới hai ba cây số rồi dạt vào bờ, đi ngược trở lại phía bến sông. Cứ thế được vài ba vòng bơi là hết buổi sáng. Nghĩ mà xem, nhiều anh miền rừng sống ven những sông Lô, sông Đà, sông Lam, họ cũng bơi khá lắm. Lính đảo toàn tòng là dân ven biển, hầu như không thấy ai là người miền rừng. Kể cũng phải, kiểu gì dân vùng biển cũng thành thạo chuyện sông nước hơn người xứ núi. Sau tôi được biết, ở những đảo lớn cũng có vài anh quê trung du, miền núi nhưng chủ yếu là lính nghiệp vụ kỹ thuật, công binh, thông tin, quân y. Từ trước khi đi, tôi chăm chăm nghĩ, nếu gặp được chàng nào quê rừng, tôi sẽ có tứ để viết được một chân dung lính đảo thú vị.

Trời tối dần. Tàu thả neo. Mỗi mỏ neo thấy ghi nặng gần hai tấn, chính xác là 1740 kg, mà tàu thì có tới năm cái mỏ neo như thế, hai cái ở phía đầu tàu, hai cái ở phía cuối và một cái dự trữ. Chỉ riêng chở mấy cái mỏ neo này cũng nặng khướt rồi. Khi thả neo cần phải dùng máy tời với những cuộn dây sắt xoắn to vật vã. Phía boang cuối tàu, mấy chú bộ đội cầm sào đi vớt cá chuồn làm mồi câu cá. Cá chuồn bơi nhoang nhoáng dưới ánh sáng đèn. Ban ngày thi thoảng cũng thấy chúng xòe vây bay lướt trên mặt nước đến mấy trăm mét. Lại nhớ phim Cuộc đời của Pi với hình ảnh cả ngàn vạn con cá phóng vun vút trên mặt biển. Bây giờ mình mới lần đầu tận mắt thấy loài cá bay được trên biển xanh, trông thú lắm. Cả đoàn có đến sáu, bảy người buông câu. Đến chừng mười giờ mới câu được chú cá thu bè nặng chừng bốn, năm ký. Rồi một chú nữa, một chú nữa. Lại được một chú nặng tới bốn chục ký. Lại thêm một bác cá ma dài tới cả mét. Thế rồi có chị cá heo chẳng hiểu sao lại bị cuốn vây vào dây câu, anh em bắt được rồi cũng thả về biển. Với người dân biển nước Việt mình, cá heo - Cá Ông - Ngư Ông được suy tôn là thần Nam Hải, Nam Hải Bồ Tát, Quan Thế Âm và được tôn thờ trong nghi thức tín ngưỡng lễ cầu an như một đấng linh thiêng che chở, phù hộ độ trì ngư dân.

Đến khuya rồi mà ông Quang vẫn rủ: “Ra ngoài boong này hàn huyên. Ngủ sớm như các bố kia thì thà nằm luôn ở nhà Hà Nội cho rồi”. Đêm trăng trên biển mênh mang, se lạnh và thoáng một chút rợn ngợp. Con tàu to đến thế mà thật nhỏ nhoi trước biển lớn. Trăng đầu tháng ngả dần về cuối trời tây. Đôi khi lại thấy những tàu hàng đang đi lại, đèn điện sáng trưng. Nhìn tận chân nước xa vẫn thấy thấp thoáng ánh đèn tàu thuyền đánh cá. Mới hay, tưởng mình dân viết lách hay thức khuya, giờ mới thấy còn biết bao người trắng đêm trên biển lớn. Chúng tôi trò chuyện mãi đến khi thấy lất phất mấy hạt mưa mới chạy về phòng. Đã gần 2 giờ khuya rồi.

Sóng nước Trường Sa  - ảnh 1

Chuẩn Đô đốc Đặng Minh Hải chụp ảnh kỷ niệm cùng đoàn Viện Văn học ở đảo Sơn Ca
 

Sau khi đến đảo Đá Lớn, chúng tôi còn đến thăm cả đảo chìm và đảo đất nổi Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn Đông, Cô Lin, Phan Vinh, Đá Tây B, Trường Sa Lớn và nhà giàn Quế Đường (DK1/8, DK1/19).

Chiều ở đảo Nam Yết lặng gió, nóng ngột ngạt. Đảo này rất nhiều cây phong ba, lá to, xanh non, tươi tốt. Nơi đây được được gọi là vương quốc của đu đủ và rất nhiều dừa, có lúc tưởng như đang đi giữa đường làng Nam Bộ. Trên đảo có ngôi chùa vừa được nâng cấp. Đi về phía tây cuối đảo, bất chợt gặp khu mộ của năm người lính. Các anh ra đi còn quá trẻ, hầu hết chưa qua tuổi hai mươi, có người nhập ngũ chưa đầy năm. Ai đến nơi đây cũng lặng đi, lặng thắp một nén nhang, lặng cầu cho vong linh các em, các cháu thanh thản giữa chốn nước mây. Các em nằm đây, sau năm năm mới chuyển cốt về quê mẹ. Các em đã hy sinh trong hoàn cảnh nào? Một đêm đi tuần, một chiều xuồng bị lật, một vòng nước xoáy, một căn bệnh nặng? Đằng sau đó là số phận con người, là bóng người mẹ trẻ, là những đứa em vọng nhớ, xa xót khóc thương anh. Nhưng trên tất cả là tấm lòng quả cảm của người đã ra đi và nghĩa tình đồng đội của người ở lại. Gió vẫn thổi, người đã khuất rồi nhưng đảo vẫn còn đây, đồng đội vẫn chắc tay súng nơi đây…

Khi ở trên đảo Cô Lin, nhìn bằng mắt thường cũng thấy phía bên kia là Gạc Ma, nơi quân Trung Quốc đã truy sát bộ đội công binh của ta và chiếm giữ đảo. Nếu nhìn qua ống nhòm sẽ thấy rõ cả máy xúc cát, xe cẩu, binh lính đi lại nhốn nháo. Nghe nói các chúng xây dựng đảo rất nhanh và hiện đại. Tự nhiên lại miên man nghĩ, giá như mình có điều kiện xây dựng được nhiều điểm đảo vững mạnh hơn nữa. Lại nghĩ, giá như ngăn chặn được vài vụ siêu lừa Huyền Như, thu lại được gần năm ngàn tỉ ấy mà đầu tư cho biển đảo thì tốt quá. Với anh bạn cua kềnh này, việc cắm chốt, rào giậu ngăn sân chẳng bao giờ là thừa.

Chiều tà. Cả tàu tập hợp trên boong tầng ba làm lễ tưởng niệm các chiến sĩ đã hy sinh ở đảo Gạc Ma, có nhạc viếng, có diễn văn, có vòng hoa và mâm quả, lại có đủ 64 bộ quần áo giấy thả xuống biển. Mỗi người thêm một nén hương, một bông cúc vàng gửi về các anh. Hai mươi sáu năm qua rồi, những người lính ấy nếu còn sống đến nay cũng chỉ mới ngoài bốn mươi tuổi, vẫn còn trẻ lắm.

Đúng ngày kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, tin tức về ngoại bang hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương - 981 vẫn đang là câu chuyện thời sự nóng bỏng. Nhớ lại thời quân Trung Quốc tràn sang biên giới phía bắc đầu năm 1979, cả lớp đại học Văn chúng tôi đều làm đơn xin nhập ngũ. Vận nước đến rồi, có còn đường nào khác?

Mới sáng được một lúc mà trên đảo Đá Tây B đã hừng hực nóng, cái nóng như thiêu như đốt thấm vị mặn của gió biển khiến mỗi người càng thêm bức sốt, khó chịu. Đi xuồng vào đến đảo, ai vào việc nấy. Các cấp lãnh đạo đọc báo cáo tổng kết, chúc mừng, giao ước thi đua và tặng quà ở hội trường tầng ba. Nhóm văn công, thanh niên và bộ đội đảo cuốn nhau về giao lưu văn nghệ, hát múa dưới tầng. Một lúc sau có Chuẩn Đô đốc, Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Hải quân Đặng Minh Hải đi kiểm tra các điểm chốt. Tới một vị trí sát bên biển có hai chiến sĩ đang đứng gác, anh Hải quay sang bảo chính trị viên: “Anh cho gọi sang đây một văn công, à, hai cũng được”, - anh giơ hai ngón tay làm hiệu - “Bảo thủ trưởng điều hai văn công lên hát cho hai đồng chí gác ngoài điểm chốt đây!”. Chừng năm phút sau thì hai cô văn công xinh đẹp đến ôm chào hai chú lính trẻ, hát liền ba bài, trong đó có mấy câu: “Ngày qua ngày, đêm qua đêm… Biển này là của ta! Đảo này là của ta!... Đem chí trai, giữ vững chủ quyền Tổ quốc Việt Nam ta!”… Hai cô vừa hát vừa ra dấu động viên các anh cùng hát theo, xong rồi ôm tạm biệt khiến hai chú lính trẻ chỉ biết vụng về cười gượng. Trong giây lát, hai cô cũng rơm rớm nướt mắt rồi chạy vội về chỗ đoàn văn công đang biểu diễn. Nơi ấy đám trẻ bắt đầu bước vào tiệc nhảy nối vòng tay lớn, vui vẻ, sôi động.

Rồi thêm một chiều trên thị trấn huyện đảo Trường Sa qua nhanh.

Có đi mới biết “biển trời bao la…”. Chẳng biết những người khác nghĩ thế nào, riêng tôi cứ nhận mình còn là kẻ du hành, trong tâm trạng du hành, san sẻ tí chút sóng gió biển khơi để thâu vào tầm mắt muôn trùng sóng vỗ, cảm nhận được sự rộng dài và giàu có chốn đại dương tổ quốc. Sóng nước Trường Sa sẽ cho tôi thêm nguồn lực tinh thần để thực hiện công trình sưu tập Du ký về biển đảo Việt Nam

Tôi lại miên man mơ tưởng, sau khi đã rào dậu ngăn sân thật chắc chắn, qua ba mươi năm, một trăm năm, hai, ba trăm năm nữa, lớp con cháu chúng ta hoàn toàn có thể xây dựng những đảo này thành nơi neo đậu của tàu thuyền, nơi nghiên cứu, nuôi trồng, thu mua, dự trữ, chế biến hải sản cho cả một vùng ngư trường rộng lớn. Đây cũng là chốn bồng lai tiên cảnh, những điểm du lịch sinh thái hấp dẫn. Phía trong đảo chìm san hô này sẽ khơi cao thành đảo nổi, có đủ cây xanh mát mắt. Điểm đảo này sẽ có những cây cầu nối sang điểm đảo kia, trên có mái che, giống loại mái cầu ngói che ở chùa Lương, chợ Thương (Nam Định), Phát Diệm (Ninh Bình), Thanh Toàn (Thừa Thiên - Huế), chùa Cầu - Hội An (Đà Nẵng)… Góc bên kia đảo có có điểm đỗ cho trực thăng du lịch, phía ngoài có cảng tàu khách cao tốc tấp nập ra vào. Sóng gió biển đảo ngàn khơi thừa sức tạo nên nguồn điện cho quán cà phê đêm thêm lung linh hư ảo.

Một mai thanh bình. Chiều dần buông, đôi trẻ nào sẽ nắm tay nhau trên chiếc dù lượn bay xanh đỏ tím vàng? Đôi trẻ nào sẽ đi xuồng thể thao kayak rẽ sóng trong tuần trăng mật? Trong đêm trăng, đôi ông bà lão nào còn ngồi đây câu cá?... Tưởng muôn năm sau mãi còn vang vọng sóng nước Trường Sa…

Tháng 5-2014

Du ký của Nguyễn Hữu Sơn

Từ khóa:

Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

 Đổi mã
Gửi Nhập lại