• Đường dây nóng

    0901.22.33.66 - toasoan@toquoc.gov.vn

  • Liên hệ quảng cáo

    091.358.6788

Anh hùng Hoàng Minh Đạo trong ký ức gia đình

Văn hoá 28/04/2018 06:09

(Tổ Quốc) -Nhà tình báo Hoàng Minh Đạo đã “Sống anh hùng và Chết vinh quang”. Anh hùng Liệt sĩ Đào Phúc Lộc là con người tài năng và nhân cách cao đẹp.

PGS.TS Lê Thị Bích Hồng

Trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Hà Nội

1. Cuộc gặp gỡ trưởng nữ anh hùng Hoàng Minh Đạo

Ngày 25/3/2014, tôi gặp TS Đào Thị Minh Vân - Trưởng nữ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (AHLLVTND), liệt sĩ Đào Phúc Lộc tại Trại sáng tác văn học “Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống” do Bộ Công an tổ chức tại thành phố Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng). Là người đảng viên đầu tiên của tỉnh Hải Ninh (năm 1963 sáp nhập với Hồng Quảng, Quảng Yên thành tỉnh Quảng Ninh), người có công đầu xây dựng và chỉ huy lực lượng tình báo quân sự Việt Nam…nhưng lại có dư luận là “gián điệp”, “kẻ phản bội Tổ quốc”…[1] Kể từ đêm Noel 24/12/1969 định mệnh trên sông Vàm Cỏ Đông tưởng đã bị lãng quên, sau gần 30 năm “chỉ có dòng sông biết”, chỉ có đồng đội tin, chỉ có người con gái với hành trình tìm sự thật để ngày 10/9/1998, liệt sĩ Đào Phúc Lộc đã được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, là người duy nhất trong số gần 2000 AHLLVTND trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ được truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh cao quý.

Hội thảo khoa học về anh hùng, liệt sĩ Đào Phúc Lộc

Đối diện tôi là người phụ nữ nhỏ nhắn, nước da nâu giòn, mái tóc điểm bạc, nhưng trên gương mặt không giấu nổi nét xuân sắc một thời. Hai chị em miên man trong dòng hồi tưởng không dứt. Chị kể cho tôi nghe về cuộc đời mình. Đôi lúm đồng tiền thi thoảng lại run rung mỗi khi chị nhắc đến đấng sinh thành. Chị Đào Thị Minh Vân là trái kết tình yêu của ba mẹ chị đều công tác trong ngành tình báo: Ông Hoàng Minh Đạo và bà Hoàng Minh Phụng – nhân viên Phòng tình báo Quân ủy Hội, Bộ Tổng Tham mưu năm 1946. Chị sinh ra vào thời điểm rất đặc biệt: Hà Nội mùa Đông năm 1946 - đêm 19, rạng sáng ngày 20/12 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” với quyết tâm “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Cái đêm mùa Đông cuối năm ấy thật ám ảnh “Nhớ đêm ra đi, đất trời bốc lửa/ Cả kinh thành nghi ngút cháy sau lưng” (Ngày về - Chính Hữu); “Người ra đi đầu không ngảnh lại/ Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy” (Đất nước – Nguyễn Đình Thi).  Sinh con được ít ngày, mẹ gánh theo chị tản cư ra khỏi Thủ đô tham gia kháng chiến... Chị Minh Vân chỉ được sống trong vòng tay cha mẹ vỏn vẹn một năm tại cơ quan Tình báo Quân ủy Hội của Bộ Tổng Tham mưu (đóng tại Đại Từ, Thái Nguyên). Năm 1948, khi con gái mới 14 tháng tuổi, mẹ Hoàng Minh Phụng đột ngột qua đời sau một trận sốt rét ác tính tại Chiến khu Việt Bắc. Lo tang sự cho vợ được ít ngày thì cha chị nhận nhiệm vụ đặc biệt lên đường vào Nam bộ và sau đó tiếp nối chuỗi ngày dài chia ly, cách biệt để nguyện ước con gặp cha không bao giờ thực hiện được. Vốn quá nhiều bí ẩn do đặc thù ngành tình báo, nên cho mãi đến năm 16 tuổi, chị Vân mới biết cha còn có những cái tên khác: Hoàng Minh Ðạo, Năm Thu, Ba Bắc, Năm Đời... Sau 4 năm (năm 1973) cha hy sinh, chị Minh Vân mới nhận được thông tin chính thức. Rời nhà số 8 Chu Văn An (Hà Nội), chị Minh Vân gạt nước mắt, oằn lòng nhớ lời dặn dò “ra khỏi cổng không được khóc”. Đêm Noel năm 1969, trên đường về họp ở Trung ương Cục miền Nam, hai con thuyền của ta bị đạn pháo từ máy bay, tàu chiến bắn xối xả. Nhà tình báo Đào Phúc Lộc và 17 người trên con thuyền đã ra đi một cách thầm lặng. Từ đó, cuộc đời và sự nghiệp của nhà tình báo xuất sắc, tài ba cứ dần chìm vào quên lãng. Hoàng Minh Đạo đã ra đi vĩnh viễn cùng “cái chết bí ẩn và sự hy sinh thầm lặng của ông năm 1969”[2].

Như lời hẹn mùa Xuân Đà Lạt, ngày 23/12/2014 chúng tôi gặp nhau tại Hà Nội trong buổi Lễ ra mắt tự truyện “Không thể mồ côi” do Nhà xuất bản Công an nhân dân nhân tổ chức. Cuốn sách ra đời vào thời điểm ý nghĩa nhân 45 năm ngày Anh hùng, Liệt sỹ Đào Phúc Lộc hy sinh (24/12/1969- 24/12/2014). Tại buổi lễ, chị Minh Vân đã kể về hành trình suốt 23 năm đi tìm thông tin “trả lại tên tuổi” cho người cha anh hùng. Lý giải cho hành trình đi tìm công lý dài gần 1/4 thế kỷ, TS Minh Vân cho biết phải lo cơm áo gạo tiền, lo cho gia đình và quan trọng là lần tìm đầu mối đằng đẵng “tôi đến chú A thì chú A lại cho địa chỉ chú B, đến chú B thì bảo để nhớ lại rồi cho tôi địa chỉ cô C, rồi cứ dẫn dắt như vậy, thành ra tôi cũng đi gặp tới 463 người cho đến ngày hôm nay…”.

 2. Người cha anh hùng trong ký ức của con

Chia tay ở Trại sáng tác văn học Đà Lạt, tôi nhớ mãi câu nói chân thực, ý nghĩa của chị Minh Vân “Người mất vẫn hiện hữu trong cuộc đời những đứa con. Bởi thế, nên chị luôn thấy cha Đào Phúc Lộc và mẹ Hoàng Minh Phụng vẫn như bên cạnh, vừa chứng kiến từng bước đi, từng năm tháng đầy biến động của cô con gái”. Chị Minh Vân đã thực hiện một cuộc hành trình không mệt mỏi trời từ Bắc vào Nam, từ Đông bán cầu sang Tây bán cầu gần 30 năm để tìm minh chứng về người cha. Chính hành trình gian nan ấy, câu chuyện về cuộc đời, tinh thần chiến đấu dũng cảm, chiến công oanh liệt, sự hy sinh thầm lặng của liệt sĩ Hoàng Minh Đạo - ông tổ ngành tình báo, lực lượng biệt động, Chính uỷ Chiến khu Đông Triều, Trưởng ban Quân báo Bộ Tư lệnh Nam bộ… mới được nhiều người biết tới. Và quê hương ông – thành phố Móng Cái đã vinh dự có con đường mang tên người anh hùng Đào Phúc Lộc.

Tình yêu và ký ức bất tử về người cha anh hùng đã cho chị một nội lực mạnh mẽ. Ý chí, độ bền bỉ, kiên trì, quyết liệt đi tìm công lý từ người con gái của người cha anh hùng.

Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, các vùng căn cứ của ta bị giặc phản kích mạnh, đánh phá, dùng B52 rải thảm… Các cơ quan Trung ương Cục, Khu ủy, Thành ủy Sài gòn - Gia Định phải di chuyển nhiều nơi. Cha chị cùng các đồng chí của mình phải di chuyển liên tục, ở nhiều địa điểm tránh giặc tập kích: khi ở hầm, lúc nhà dân, lại khi chui địa đạo, khi vượt sông, lúc lên rừng...Đường dây liên lạc bị đứt. Có nhiều đồng chí giao bưu, quân bưu đã hy sinh trên đường làm nhiệm vụ… Mặc dù tình thế nguy nan, phải tập trung cao độ, căng mình cho cuộc chiến, nhưng thời gian hiếm hoi được nghỉ, người cha Hoàng Minh Đạo lại nhớ con. Ông đau đáu mong nhớ và nỗi đau không thể nguôi ngoai khi mất liên lạc với các con ở miền Bắc. Nhớ các con oặn lòng. Mong tin các con từng phút, từng giây “Lúc nào thuận tiện, các con viết thư cho ba từng mẩu, từng việc, từng lúc cũng được. Muốn viết gì thì viết, miễn sao ba có tin, nhận được thư và chữ của các con” (ngày 5/7/1969).

Ngày 10/10/1966, ông Hoàng Minh Đạo viết cho con gái “Con Minh Vân của ba má!. Ba đã nhận được thư của con viết từ giữa năm 1965. Ba rất mừng được biết con mạnh khoẻ…Con đi làm gì, ở đâu, con nhớ thường viết thư cho ba, ba mong thư của con lắm…Con cố gắng học tập, công tác cho tốt. Thỉnh thoảng, con cũng viết thư cho em Ngọc, em Hồng để an ủi và động viên các em…Ba gởi kèm theo một cái cắt móng tay và một con dao nhỏ inoxydable 2 lưỡi “double” cho con”. Ở miền Nam, ông hướng tình cảm nhớ thương các con ở miền Bắc thân yêu: “Hai con Vân và Ngọc yêu của ba má! Đã hơn ba năm nay, ba không nhận được một thư, biết một tin nào về các con và em Hồng. Ba tin các con ở ngoài đó được tổ chức, được tập thể chăm nom... nhưng lâu quá không được tin tức gì, ba cũng có phần nào băn khoăn. Má con, lúc chưa bị bắt, thường suy nghĩ, lo lắng nhiều đến các con, nhất là nghĩ tới con Vân, đứa con gái lớn mà má không ở gần được để chăm sóc, giáo dục, giúp đỡ cho con khi con trưởng thành và lập gia đình. Tình cảm và nhiệm vụ thiêng liêng của những người mẹ thường có đối với những con gái lớn yêu quý của mình. Ba vẫn mạnh, công tác vẫn cố gắng… Má con vẫn còn bị địch giam…” (Ngày 15/12/1966). “Con Minh Ngọc yêu của ba má, Ba đã nhận được thư của con viết từ giữa năm 1965. Ba rất mừng, được biết các con mạnh khoẻ. Con Ngọc của ba má học tập đạo đức tốt và đã được làm cháu ngoan Bác Hồ. Con lại rất thương yêu chăm sóc em Hồng. Như vậy là tốt, con đã xác định được nhiệm vụ của con khi các con xa ba má.…”. Nghe tin con sơ tán về Móng Cái, cha mừng và xúc động lắm “con đã sơ tán về quê nội đó. Rất tiếc ba không ở gần để giới thiệu con với bà con cô bác họ hàng. Có thể con nói với cô Hà hay chú Sơn viết thư giới thiệu cho con, nếu con ở ngay thị xã Móng Cái. Ba có gởi kèm theo đây một cây viết máy có khắc tên con để thêm phần nào giúp con thuận lợi trong việc học tập và cũng là đồ thưởng của ba cho con. Chúc con luôn mạnh, học tập đạo đức tốt”. Người cha mong ước ngày đoàn tụ “ba má trong này sẽ cố gắng nhiều hơn nữa để cho gia đình ta chóng được đoàn tụ” (Ngày 8/10/1966).

Trong bức thư gửi ra Bắc ngày 05/7/1969, người cha đặt nhiệm vụ với Tổ quốc lên trên hết và lý giải vì sao ba không thực hiện được lời hứa sẽ viết cho mỗi con một bức thư riêng, vì các con đã lớn rồi và ở xa nhau nhưng “ba khó thực hiện vì tình cảm, ý muốn dặn dò của ba đối với hai con đều giống nhau và phần nào thời giờ công việc của ba... Nên ba lại viết chung cho hai con một thư”.

Đất nước chiến tranh, gia đình ông Hoàng Minh Đạo ly tán kẻ Bắc, người Nam: “Má con bị bắt từ tháng 10/1963 đến nay ba cũng không được biết tin tức gì thêm” (Ngày 10/10/1966).  “Em Thu của các con ba cũng chả được hay tin tức gì thêm từ năm 1959 cho đến nay. Má con, có một chị bị bắt giam chung, hồi cuối năm 1968 ra có cho hay: “Má con vẫn mạnh, khí tiết vẫn tốt và có thể địch sẽ thả ra vì tội trạng đối với địch, địch cho không có gì là nặng lắm”. Má con vẫn giữ được bí mật lý lịch của mình. Địch không biết ở miền Bắc về, không biết là vợ của ba” (ngày 5/7/1969)…

Người cha đau đáu nỗi niềm riêng cho con. Bức thư nào cha cũng thường nhắc đến hình ảnh những đứa con. Cha thương cô con gái đầu lòng sớm côi cút đã 20 năm xa cách “Gần đây, ba không nhận được thư nào của con Vân. Không biết Vân có gởi thư mà ba không nhận được?. Hay con Vân có chút gì hờn giận về ba không?. Đã hơn ba năm nay, ba không hề biết chút tin tức gì của các con…”. Chị Vân ám ảnh không thôi trong tâm trí cha “Con Vân mới tròn tuổi đã phải xa ba, và khi đó gặp ba lúc nào là đeo bám, bắt ba bồng, bắt ba phải đút cho ăn, khi ba đi công tác là phải tìm cách trốn Vân, nếu không Vân khóc và đòi dữ lắm!” (ngày 5/7/1969).

Người cha có niềm vui, an ủi các con được bao bọc trong tình yêu miền Bắc, được học hành, giáo dục chu đáo. Mỗi thành quả của các con là niềm hạnh phúc cho cha, giúp cha vững tin “Các con đều đã qua lớp 10, con Vân học hết năm thứ hai của Đại học. Con Ngọc cũng sắp vào đại học và sẽ được ra học nước ngoài. Ba nghĩ, nếu má con biết được tin này, cũng rất mừng. Các con được vô đại học, ngày xưa ba má ước mơ được học lên trung học cũng không được… Biết bao thanh niên ở miền Nam như các con hiện nay, phải “rẽ ngang” không được tiếp tục học hành vì đời sống gia đình quá túng quẫn, vì chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Các con đã học tốt, hạnh kiểm tốt, cần phải cố gắng tốt hơn nữa, các con ạ. Ba rất tiếc các con không qua trường “Đại học Kháng chiến ở miền Nam”, nhưng các con ở ngoài đó, ngoài việc được Đảng và tập thể trường giúp đỡ, chắc cũng đã phấn đấu với nhiều gian khổ để trở thành “học trò tốt”... Hãy cứ phấn đấu liên tục, các con ạ; không bao giờ chịu lùi bước trước một khó khăn nào, không bao giờ thỏa mãn, lạc hậu; học tập tốt, hạnh kiểm tốt; nâng cao tri thức và đạo đức cộng sản của mình, để sau này phục vụ cho Tổ quốc, cho miền Nam tốt hơn thôi…Ba chúc các con luôn luôn mạnh và có nhiều bạn tốt. Ba chúc Ngọc lên đường ra học nước ngoài bình an. Ngọc ra học nước ngoài, phải chú ý đặc biệt đến sức khoẻ của mình nhất là mùa đông” (05/7/1969). Người cha không thể tiết lộ thân phận với ai, nhưng luôn động viên các con niềm tự hào về cha mẹ mình “nếu con có thấy các bạn bè cùng lứa có kinh tế khá mặc quần áo có đẹp hơn, giày dép tốt hơn thì đừng có tủi thân, đừng có buồn mà hãy lấy làm hãnh diện vì cha đang đi để sau này cho tất cả các con sẽ được như vậy...”.

Cuối bức thư nào cũng có dòng chữ “Ba hôn các con rất nhiều”…

4.Những người mẹ trong cuộc đời

Trong cuộc đời, chị Minh Vân cảm nhận được hạnh phúc vì nhiều người mẹ yêu thương. Người mẹ đẻ Hoàng Minh Phụng ấp ưu 9 tháng 10 ngày khó nhọc, cho chị được làm người, cho chị vóc dáng và chị tự hào có đôi má lúm đồng tiền được thừa hưởng từ mẹ. Sau khi mẹ mất, cha chị rối bời tình thương đứa con nhỏ chưa đầy hai tuổi, mới lẫm chẫm tập đi, lại mồ côi mẹ khác nào “liếm lá đầu đường”. Nhưng vì nhiệm vụ cách mạng, người cha yêu nước, yêu con đã dứt áo ra đi, quyết định vào Nam nhận trọng trách mới với tư cách là đặc phái viên của bộ Tổng Tham mưu và để xây dựng lực lượng ngành không một chút trù trừ.

Sau khi nhà tình báo Hoàng Minh Đạo vào chiến trường Nam bộ, theo đường dây của cơ quan giao liên tình báo, chị Minh Vân được đưa từ huyện Đại Từ (Thái Nguyên) về Ban Tình báo Hà Nội. Mẹ Nguyễn Thị Kíu – người chị nuôi của cha ở số nhà 41 Lò Sũ (Hà Nội) là người mẹ thứ 2 của chị. Nhà mẹ chuyên kinh doanh, sản xuất bánh mứt thương hiệu Tùng Hiên nổi tiếng. Mẹ Kíu thương yêu chị và bốn đứa trẻ (con của cán bộ tình báo đang hoạt động ở xa, hoặc bí mật không có điều kiện trực tiếp chăm sóc) như con đẻ. Các con đều gọi bà là mẹ và xưng con... Thương các con, mẹ Kíu đành phải đi làm thuê, làm mướn kiếm tiền nuôi các con cán bộ chiến sĩ làm nhiệm vụ đặc biệt. Giữ bí mật tuyệt đối công việc của cha chị và đồng đội của ông, mẹ Kíu luôn dặn dò chị Vân: “Ai hỏi bố con đâu, con phải trả lời là bố đi làm ăn xa ở Sài Gòn. Nếu người lạ mặt có hỏi con là gì của mẹ thì con phải trả lời bố con là em ruột của mẹ đi làm ăn xa nhiều năm rồi”[3]. Chị Vân còn nhớ như in khái niệm cha, má “đi Liên xô” theo lời dặn dò…

Năm lên 8 (1954), Minh Vân ngỡ ngàng biết mẹ hai từ miền Nam tập kết với Ngọc (em trai cùng cha khác mẹ). Mẹ hai đưa chị lá thư của cha “Má Hường sẽ là má của con, em Ngọc sẽ là em của con. Ba hy vọng má Hường sẽ yêu thương con như ba và mẹ Phụng đã yêu con”[4]. Vào ngày nghỉ, má đón em Ngọc đang học ở Trường Nhi đồng miền Nam về thăm chị. Má bắt chấy, tắm gội cho con gái. Má đưa hai con đi chơi Bờ Hồ ăn kem, ăn phở. Hai chị em Vân nhớ lời dặn của má Hường và mẹ Kíu luôn. Ngày chị Vân đi học xa, có hai mẹ: Má Hường, mẹ Kíu và cậu em trai tiễn con gái ở ga Hàng Cỏ. Má Hường dặn dò: “Con ráng học giỏi cho ba con vui. Nhớ viết thư về cho má và em Ngọc”. Năm 1959, má Hường “đi Liên xô” với hành trình hơn sáu tháng đi bộ xuyên rừng, ngược về chiến trường Nam bộ. Má bị sốt rét ác. Trận sốt rét không quật ngã người phụ nữ Nam bộ kiên trung. Má hoạt động hợp pháp ở Sài Gòn cho đến năm 1963 bị giặc bắt. 10 năm sau (1973), má được trao trả tù binh ở Bù Đốp (Tây Ninh). Khi được trao trả, má trở về với các con, nhưng là với di chứng chiến tranh đeo đẳng. Những ngày bị giam cầm, tra tấn dã man của kẻ thù ở chuồng cọp cùng điều kiện sống khắc nghiệt đã khiến má mắc bệnh thần kinh. Và nhất là khi biết tin chồng hy sinh mất xác, bệnh của má Hường càng trầm trọng hơn “Mỗi khi bị bệnh lên cơn, má Hường thường hát và khóc. Bà toàn hát những bài cách mạng và hô những khẩu hiệu đã cùng các đồng chí của mình dùng để đấu tranh trong nhà tù Côn Đảo”[5].

Sau khi má Hường “đi Liên xô”, chị em chị Minh Vân ở với mẹ Bùi Tuyết Hạnh (em ruột má Hường) tại Khu tập thể Văn phòng Phủ Thủ tướng. Dì Hạnh là một trí thức cách mạng, là người mẹ của chị em Vân, Ngọc, Hồng. Năm 1972, má Hạnh vào chiến trường. Trước ngày đi, má gọi chị Minh Vân dặn dò chu đáo “Mẹ đi về nơi ba Đạo và má Hường con, không rõ có ngày quay lại đây nữa không. Nhưng mẹ tin vụ ba con mất tích chắc là bị tụi nó bắt rồi giam ở đâu đó. Còn má Hường con thì có tin đưa ra là đang ở trong tù Côn Đảo, vẫn đang đấu tranh. Sau này nếu mẹ không quay về thì con nhớ là ba con tên Đạo, má con tên Hường và ba em của con là Ngọc, Thu, Hồng. Con nhớ là con còn một em gái tên Thu đang ở Cần Thơ”[6].

Trong thư, người cha báo tình hình “Tình hình kháng chiến chung trong Nam, nay thắng lợi càng nhiều, càng lắm gian nan và dồn dập. Tuy Mỹ nguỵ còn ngoan cố nhiều, nhưng Mỹ đã phải “xuống thang” và chắc còn phải “ xuống thang” nữa… Ác liệt và phức tạp còn nhiều. Nhưng như Bác Hồ đã dạy: Càng gần thắng lợi càng nhiều gian nan mà…” (ngày 5/7/1969).

5. Anh hùng Hoàng Minh Đạo và hai người vợ

Người vợ đầu của Đào Phúc Lộc là tiểu thư khuê các con vị quan phủ giàu có ở Móng Cái thời bấy giờ. Cảm mến chàng trai trẻ tài năng, bản lĩnh, giàu nhiệt huyết với cách mạng, Minh Phụng đã dám chống lại sự sắp đặt của cha mẹ để để theo cách mạng, phục tùng sự dẫn dắt chỉ lối của chàng trai trẻ ấy. Hôn lễ của cha mẹ Minh Vân được tổ chức ngay tại Phòng Tình báo vào mùa Đông năm 1945. Hai chiến sĩ tình báo đã có những ngày hạnh phúc bên nhau. Nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang, người vợ - người đồng chí đã ra đi để lại Đào Phúc Lộc nỗi chống chếnh, hẫng hụt không gì bù đắp nổi. Nhận nhiệm vụ mới, gạt nước mắt vào tim, lo gửi con gái trứng nước cho cơ sở cách mạng, ông vào Nam. Thương nhớ người vợ đồng hương Móng Cái, ông lấy bí danh Hoàng Minh Phụng.

Ba năm - sau ngày vào Nam, được sự vun vén của đồng đội, tháng 4/1951, ông Đào Phúc Lộc tổ chức đám cưới lần thứ hai với  cô giao liên Bùi Ngọc Hường Cục Tình báo Trung ương ở Bộ Tư lệnh Nam Bộ. Má Hường gặp ba năm 1950 sau khi học xong lớp bồi dưỡng ở Trường Trung học Nguyễn Văn Tố. Má làm cơ yếu ở Ban Quân báo Phòng Tham mưu thuộc Bộ Tư lệnh Nam bộ do cha Hoàng Minh Đạo làm trưởng ban. Má Hường thương hoàn cảnh éo le của người thủ trưởng hơn mình hơn chục tuổi “Anh Đạo có đặt vấn đề với Chi bộ muốn xây dựng gia đình với tôi. Cũng không giấu giếm gì cả, anh nói vợ đã mất, con gái còn nhỏ gửi lại một cơ sở ở ngoài Bắc… Không biết nên như thế nào cho phải, nhưng rồi cũng vượt qua được những khó khăn ấy”. Ba đứa con của má Hường: Minh Ngọc, Minh Thu, Minh Hồng chào đời ở ba chiến trường khác nhau. Cũng như chị cả Minh Vân ở miền Bắc, ba đứa em đều không biết mặt cha.

Trong tình cảm riêng tư, má Hường phải chịu nhiều mất mát và thiệt thòi. Là người vợ, má Hường ít có điều kiện sống gần chồng. Là người mẹ, có công sinh nhưng không có điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc con. Má Hường phải gửi con cho tổ chức, cho cơ sở, cho bà con nuôi hộ “Thiệt thòi của má Hường cũng gắn liền với sự hy sinh lớn nhất của bà, đó là tình cảm gia đình. Bà là người của tổ chức, người của công việc chung, của xã hội, là người tuyệt đối trung thành với con đường mình đã chọn là theo Đảng và Cách mạng”.

Là vợ chồng, là đồng chí, ông Hoàng Minh Đạo trân trọng, cảm phục người đàn bà là vợ mình phải chịu nhiều thiệt thòi. Thư cho con, người cha nhắc đến má Hường với tình yêu và cảm phục “má con sức khoẻ có phần nào kém trước, khí tiết cách mạng vẫn tốt, vẫn tích cực đấu tranh với giặc mặc dù đã bị giam cầm lâu ngày, vẫn được chị em cùng giam mến yêu, tin tưởng…”.

Các đại biểu tham dự Hội thảo về anh hùng, liệt sĩ Đào Phúc Lộc

6. Người anh hùng bất tử trong lòng nhân dân

Sau gần 30 năm hy sinh, ngày 08/4/1998, Lễ truy điệu tiễn đưa liệt sĩ Hoàng Minh Đạo về nghĩa trang Thành phố Hồ Chí Minh đã diễn trân trọng, thiêng thiêng, cảm động. Cùng năm đó, Lễ truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho liệt sĩ Hoàng Minh Đạo đã diễn ra ngày 10/9/1998 tại Hà Nội. Nhà tình báo Hoàng Minh Đạo đã “Sống anh hùng và Chết vinh quang” như thế. Anh hùng Liệt sĩ Đào Phúc Lộc là con người tài năng và nhân cách cao đẹp.

Nhà tình báo Hoàng Minh Đạo là một chiến sĩ cách mạng kiệt xuất. Vào Đảng Cộng sản Đông Dương khi mới 16 tuổi (năm 1939) và mới 46 tuổi đời, ông đã anh dũng hy sinh. Cả cuộc đời oanh liệt anh đã cống hiến cho sự nghiệp vinh quang của Đảng, 21 năm lăn lộn trên chiến trường Nam bộ, lập được công lớn góp phần xứng đáng vào công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam. Ông ra đi để lại niềm thương tiếc vô hạn đối với đồng chí, đồng đội, bè bạn, người thân, nhất là với bốn người con đứa Bắc, kẻ Nam. Anh hùng Đào Phúc Lộc đã giữ bao trọng trách lớn: Trưởng Phòng Tình báo Quân ủy Hội[7]- Bộ Tổng Tham mưu; Trưởng Ban Quân báo và Tình báo của Bộ tư lệnh Nam Bộ; Phó Ban Địch tình Xứ ủy Nam Bộ[8]; Phó Ban Binh vận Trung ương Cục Miền Nam; Bí thư, kiêm Chính ủy Quân khu; Bí thư kiêm Chính ủy Phân khu V và Phân khu I; Ủy viên Thường vụ Khu ủy Sài Gòn Gia Định, Chính ủy Lực lượng Biệt động Sài Gòn…

Sau hành trình của con gái và đồng đội, liệt sĩ – anh hùng Hoàng Minh Đạo được nhiều người biết đến chiến công vẻ vang mà thầm lặng. Tri ân người anh hùng, thành phố Móng Cái quê hương ông đã có một đường phố và một ngôi trường vinh dự được mang tên người anh hùng Đào Phúc Lộc. Ở thành phố Hồ Chí Minh có một đường phố và một trường tiểu học ở Quận 8 được mang tên Hoàng Minh Đạo; một Trường mầm non ở Củ Chi mang tên “Con Đường Sáng”. Tên tuổi, chiến công của ông đã tạo cảm hứng thẩm mỹ lớn cho văn học nghệ thuật. Nhà biên kịch Bùi Gia Khánh xây dựng thành kịch bản điện ảnh cho bộ phim mang tựa đề “Con đường sáng” (Hoàng Minh Đạo) và NSƯT Phạm Việt Thanh đạo diễn. Bộ phim dài 15 tập phản ánh cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi và bi tráng của nhà tình báo huyền thoại Đào Phúc Lộc. Bộ phim đã lên sóng nhân dịp Tết Nguyên Đán Mậu Tý 2008.

Một cuộc hội thảo khoa học về cuộc đời, sự nghiệp nhà tình báo Hoàng Minh Đạo sẽ tạo đà để tiếp tục tuyên truyền sâu rộng nhân cách đạo đức, lòng yêu nước của nhà tình báo tài ba; lan tỏa cái đẹp người anh hùng đến mọi giai tầng xã hội, đặc biệt cho thế hệ trẻ về truyền thống yêu nước bất khuất, tinh thần chống ngoại xâm, tình yêu con người, tình yêu cuộc sống của người chồng chiến sĩ và người cha anh hùng; mở trại sáng tác để văn nghệ sĩ thỏa sức sang tạo, khai thác nhiều mặt, nhiều góc cạnh người anh hùng; đưa tấm gương anh hùng vào chương trình giáo dục, học tập ở địa phương…

Tôi mong sẽ có Tượng đài uy nghiêm về liệt sĩ - anh hùng Đào Phúc Lộc – Hoàng Minh Đạo trên dải đất biên cương Quảng Ninh; thêm đường phố mang tên Đào Phúc Lộc ở những nơi ghi chiến công oanh liệt của nhà tình báo anh hùng “sinh Bắc tử Nam” đã trở thành huyền thoại.

Nhân kỷ niệm 43 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Tổng cục Tình báo Bộ Quốc phòng, Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy văn hóa dân tộc phối hợp tổ chức Hội thảo “Anh hùng liệt sĩ Đào Phúc Lộc – Người cộng sản trung kiên, mẫu mực, nhà tổ chức, chỉ huy và hoạt động tình báo xuất sắc” vào sáng 26/4 tại Hà Nội.

[1] Khúc bi tráng trên sông Vàm Cỏ

[2] Khúc bi tráng trên sông Vàm Cỏ - Nxb Công an nhân dân, 2008

[3] Khúc bi tráng tên sông Vàm Cỏ (2008), Nxb Công an nhân dân, tr.532

[4]Sđd, tr.516

[5] Sđ d, tr.531

[6] Khúc bi tráng tên sông Vàm Cỏ (2008), Nxb Công an nhân dân, tr. 516

[7] Cơ quan tiền thân của Tổng cục II - Bộ Quốc phòng

[8] Cơ quan tiền thân của Ban An ninh Trung ương Cục Miền Nam

NỔI BẬT TRANG CHỦ