• Đường dây nóng

    0901.22.33.66 - toasoan@toquoc.gov.vn

  • Liên hệ quảng cáo

    091.358.6788

Bệnh của đàn gia cầm (tiếp)

Sức khỏe 01/06/2013 15:19

(Toquoc)- Đậu gia cầm là một bệnh truyền nhiễm lây lan nhanh với các biểu hiện đặc trưng hình thành và xuất hiện các nốt đậu ở mào...

I. Bệnh đậu gà (Variola avium.avian pox)

1. Giới thiệu

Đậu gia cầm là một bệnh truyền nhiễm lây lan nhanh với các biểu hiện đặc trưng hình thành và xuất hiện các nốt đậu ở mào, tích, mép mỏ, mí mắt, da chân và màng giả ở niêm mạc vùng hầu, họng của gia cầm.

2. Nguyên nhân

Bệnh do một loại Poxviridae virus cực nhỏ, hướng bì gây ra nhưng gồm nhiều chủng:

- Boreliota avium: gây đậu gà

- Boreliota Columbae: gây đậu chim câu.

- Boreliota Meleagridis: gây đậu gà Tây.

- Boreliota Fringillae: gây bệnh cho chim sẻ.

3. Loài gia cầm mắc bệnh

- Tất cả các loài gà, nòi gà, cút, chim câu, chim trĩ, công, vẹt và hoang cầm đều có thể mắc bệnh.

- Bệnh không lây lan sang thủy cầm (ngan, vịt, ngỗng không mắc).

4. Tuổi gà măc bệnh

Bệnh đậu có thể xảy ra ở tất cả các lứa tuổi gia cầm, nhưng gia cầm non đang lớn là mẫn cảm nhất.

5. Đặc điểm dịch tễ

- Bệnh có tính dịch cao, được liệt vào loại dịch lưu hành (Epizootia).

- Bệnh lây lan chủ yếu qua đường miệng và hô hấp, bệnh không truyền dọc từ mẹ sang con qua phôi trứng.

6. Mùa phát bệnh: Quanh năm

7. Triệu chứng

- Bệnh có thời kỳ ủ bệnh trung bình từ 4- 10 ngày, ít khi đến 20 ngày.

- Có 3 biểu hiện

7.1. Thể da

Xuất hiện các nốt đậu ở da của mào, tích, da mép mỏ, mí mắt, da chân.Lúc đầu các nốt đậu này nhỏ có màu vàng xám, sau đó dần thành các cục thịt, lồi rõ lên trên bề mặt da tạo ra các đám đậu rắn chắc, màu thâm nâu, khô và sần sùi, bên trong nốt đậu chứa một chất đặc như hồ gạo màu vàng nâu. Lúc này thể trạng gà mệt mỏi, giảm ăn, sinh trưởng chậm ở gà thịt và ở gà đẻ thấy giảm đẻ. Sau đó không lâu các nốt đậu khô dần và tạo thành vảy nâu, các vảy nâu này sẽ tự bong tróc sau 4- 6 tuần và gà trở lại bình thường.

7.2. Thể màng giả

Thể bệnh này bao giờ cũng rất nặng nề. Lúc đầu xuất hiện các nốt sần trắng trong vòm miệng, vùng họng và hầu, về sau chúng dính liền lại với nhau tạo thành màng giả dày, dầy đến vài mm với màu vàng xám, sau chuyển sang vàng nâu, dính chặt, dính sâu vào niêm mạc các cơ quan đó rất khó bóc tách, nhất là lưỡi. Sau khi bóc tách ta thấy rõ các nốt loét chảy mảu. Do các nốt đậu xuất hiện ở miệng, họng và hầu khiến gà bị đau nên không dám ăn, chúng khó thở và kiệt sức rồi chết.

7.3. Thể hỗn hợp

Đây là thể bệnh mà cùng một lúc các biểu hiện bệnh xuất hiện ngoài da mào, tích, mép, chân và xuất hiện các màng giả ở miệng, hầu. họng, khí quản,…

Là thể bệnh nguy hiểm nhất, bệnh gây chết từ 5- 70% số gà, 3- 10% số chim câu, 100% gà Tây.

8. Chẩn đoán

Dựa vào các dấu hiệu lâm sàng có thể chẩn đoán bệnh.

9. Điều trị

- Thể ngoài da: Bôi 2%PVP. Iodine, khi nào tạo thành vảy thì bóc vảy và bôi lần nữa.

- Thể màng giả: Cho uống 10ml T.Metrion pha vào 1 lít nước thay nước uống hàng ngày rồi tiêm bắp Vitamin A hoặc AD3E. Thái 1ml/5-10kgP/lần/ngày hoặc Vidan-T với liều tương tự, trong 3-4 ngày.

10. Phòng bệnh

Từ ngày tuổi 15 trở đi chủng đậu cho gà hoặc chim câu một lần duy nhất bằng vacxin đậu do Việt Nam sản xuất sễ miễn dịch suốt đời.

II. Hội chứng còi cọc ở Gà

1. Giới thiệu

Hội chứng gà còi cọc do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do một loại Reovirus gây ra. Vì vậy hội chứng còi cọc được xem là một bệnh truyền nhiễm. Bệnh đã và đang trở thành mối đe dọa nguy hiểm cho ngành chăn nuôi với các biểu hiện đặc trưng chậm lớn, xấu xí, lùn và còi cọc gây thiệt hại đáng kể đến kết quả chăn nuôi.

2. Nguyên nhân

Trước đây trong chăn nuôi gà tập trung thường có 1- 5% tỷ lệ gà còi cọc vào đầu những năm của thập kỷ 80,90 thế kỷ trước, ngày nay tỷ lệ gà còi cọc tăng lên đáng sợ 20- 40% tại hầu hết các nước có nền chăn nuôi gà công nghiệp như Anh, Mỹ, Pháp, Israel…

Khi đó người ta đổ lỗi cho rằng các nhà di truyền chọn giống với quan điểm xuất hiện hiện tượng lai giống, thoái hóa giống lai tạo. Sau nhiều công trình nghiên cứu các nhà di truyền học không tìm thấy các yếu tố gây lại giống. Buộc các nhà nghiên cứu dinh dưỡng phải vào cuộc nhưng đã không tìm ra sai khác về dinh dưỡng dẫn đến gà còi cọc hàng loạt. Câu trả lời cuối dùng dành cho các chuyên gia thú y và họ đã thành công phân lập được Reovirus- một loại virus gây còi cọc truyền nhiễm ở gà.

Trong quá trình hình thành, hội chứng còi cọc được mang rất nhiều tên khác nhau, hội chứng gà lùn, hội chứng gà xanh xám, bệnh trực thăng, bệnh hoại tử cơ đầu đùi, bênh dễ gãy xương,…

3. Dịch tễ học

- Bệnh còi cọc chỉ xảy ra ở gà từ 1- 6 tuần tuổi.

- Bệnh có thể truyền dọc qua phôi trứng và truyền ngang lây từ đàn này sang đàn khác.

- Bệnh không có tính thời vụ, nhưng lại chịu tác động lớn bởi kỹ thuật chăm nuôi.

4. Triệu chứng lâm sàng

- Nhìn chung cả đàn gà vẫn ăn uống khỏe mạnh bình thường, nhưng gà ỉa chảy liên tục, phân sống có bọt khí, khi dùng các loại thuốc kháng sinh điều trị bệnh sẽ thuyên giảm trong 2-3 ngày, song ngay sau đó tiêu chảy lại tiếp diễn (kháng sinh không có tác dụng).

- Hình thể gà xấu xí, chân lùn, đi không vững, lông kém mượt lại bẩn do phân bám dính, có lẽ từ các bệnh chứng này nên người ta đặt tên “ gà lùn”.

- Gà bệnh chậm lớn hẳn so với những con khác cùng lứa tuổi, gây cảm giác như trong đàn gà gồm nhiều lứa tuổi khác nhau và cách nhau 2- 3 tuần tuổi.

- Đến khi gà được 5- 6 tuần tuổi thì gà bệnh có biểu hiện thần kinh rõ: đi không vững, run rẩy, hay ngã khi xua đuổi, tuy nhiên tỷ lệ chết không cao.

5. Mổ khám bệnh tích

- Ruột chướng hơi.

- Thức ăn không tiêu, dịch nhầy ruột có màu nâu.

- Niêm mạc ruột vị viêm cata có màu nâu sẫm.

- Lách không sưng, nhưng có biểu hiện hoại tử.

- Gan, thận hầu như bình thường.

- Đầu cơ đùi bị viêm hoại tử, khi mới mắc bệnh bị viêm đỏ tấy, sau hoại tử trở nên trắng bệch như thịt luộc.

- Tụy bị viêm thoái hóa xơ cứng.

- Tủy xương nhợt nhạt có màu vàng xám giống như bệnh viêm gan virus.

6. Chẩn đoán bệnh

Hội chứng còi cọc dễ nhận biết qua dịch tễ, triệu chứng và mổ khám bệnh tích.

7. Chẩn đoán phân biệt

7.1. Bệnh Gumboro

Diễn biễn viêm đầu cơ đùi trong thời gian đầu giống như xuất huyết cơ của bệnh Gumboro, nhưng về giai đoạn cuối thì khác. Đầu cơ thoái hóa, viêm hoại tử nên có màu sắc nhợt nhạt. Hội chứng còi cọc không có các biểu hiện xuất huyết ở túi Fabricius, dạ dày tuyến và gà không bị sốt.

7.2. Bệnh viêm khớp do Reovirus

- Bệnh chỉ xảy ra ở gà trên ngày 30 tuổi.

- Viêm khớp là triệu chứng điển hình của bệnh viêm khớp do virus, gà không những run rẩy khi đi lại hoặc đi lại không vững mà còn bị què.

- Bao khớp chứa đầy dịch.

- Viêm khớp do Reovirus không bị ỉa chảy hàng loạt, niêm mạc và dịch ruột không phải màu nâu. Không có các bệnh tích ở cơ đùi, cơ ngực.

7.3. Bệnh viêm khớp do Staphylococus

Bệnh nặng nhất ở gà 2- 20 ngày tuổi và ít khi xảy ra ở gà trên 5 tuần tuổi. Không có các biển đổi ở ruột và cơ, gà không bị ỉa chảy, không bị lùn.

7.4. Bệnh viêm não- màng não truyền nhiễm

Run rẩy đi không vững là biểu hiện dễ nhầm với hội chứng còi cọc. Song ở viêm não còn có sự co thắt cơ đầu, cơ cổ làm gà co rúm một cách dễ nhìn thấy, gà khỏi bệnh bị đục mắt và trở thành dị tật.

8. Điều trị

Không có thuốc đặc trị, nhưng chúng ta phải chú trọng đến thành phần dinh dưỡng để nâng cao khả năng kháng bệnh của cơ thể, hạn chế sự gia tăng tỷ lệ còi cọc phải thường xuyên bổ sung Super vitamin hoặc Doxyvit.Thái kết hợp bổ gan- thận- lách TA. Hoặc TA.Sorbitol B12 và men tiêu hóa Feedophyt hay Hostazym.

9. Phòng bệnh

Do có một số chủng  Reovirus gây sụt trứng ở gà đẻ nên để phòng bệnh còi cọc ở gà con các nhà nghiên cứu chế tạo các vacxin chứa nhiều chủng Reovirus nhằm phòng hội chứng còi cọc và giảm đẻ cùng một lúc với cùng 1 loại vacxin

Các vacxin đó là:

+ Avian Reovirus- vacxin vô hoạt của Pháp tiêm dưới da 0,5ml/con

Lần 1: tiêm dưới da cho gà lúc 4 tuần tuổi.

Lần 2: trước khi vào đẻ (16- 20 tuần tuổi).

+ Inacti/ Vac Reo- vacxin vô hoạt của Pháp chứa 2 chủng S1133 chống viêm khớp và 1733 chống còi cọc. Cách sử dụng và thời gian dùng như trên.

+ TAD.Reo Vac.I- chủng U conn 1133 tiêm dưới da hoặc tiêm bắp cho gà 7- 10 ngày tuổi lần 1 và nhắc lại lúc 4 tuần tuổi.

Đối với gà đẻ người ta thường dùng vacxin đa giá chống 3- 4 bênh trong đó hội chứng giảm đẻ, còi cọc, viêm khớp.

- ND/IB/EDS/REO (TAD 401) chống 4 bệnh: gà rù, viêm phế quản, Gumboro, giảm đẻ và còi cọc viêm khớp.

- NB/IB/IBD/REO (TAD401) chống gà rù, viêm phế quản, Gumboro và còi cọc, viêm khớp.

- Inacti/vac.BD3+ REO

- Inacti/vac.BD3+ND+REO

- Inacti/vac.BD3+ND+ IB2+REO

- Nobivac- Reo+IBD + ND của Hà Lan.

III. Dịch run rẩy gà (bệnh viêm não tủy và màng nào – Encephalomyelitis infectiosa avium, Avian infectious encephalomyelitis- AE)

1. Giới thiệu

Bệnh viêm não tủy và màng não là bệnh truyền nhiễm ở gà mới được phát hiện gần đây. Bệnh có tên khoa học là Encephalomyelitis infectiosa avium- EA hoặc  Avian infectious encephalomyelitis- AE. Do một loại Adeno Picorma virus gây ra (AEV). Bệnh còn có tên là dịch run rẩy gà.

2. Dịch tễ bệnh

- Bệnh có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi một cách đột ngột, nhưng nặng nhất ở gà hướng thịt từ 2- 6 tuần tuổi.

- Căn nguyên gây bệnh thâm nhập vào cơ thể gà bằng rất nhiều cách khác nhau:

+ Qua phôi trứng

+ Qua đường miệng và hô hấp

+ Bệnh có tính lây lan mạnh không phụ thuộc vào mùa vụ, thời tiết.

3. Triệu chứng lâm sàng

3.1. Đối với gà con đến 30 ngày tuổi

Nếu mầm bệnh được gà mẹ truyền sang gà con thì bệnh xuất hiện sớm và tỷ lệ gà ốm và chết cao. Nếu do lây lan thì bệnh phá chậm hơn và số gà ốm cũng ít hơn.

Nhìn chung có khoảng 5- 30% số gà ở độ tuổi 2- 35 ngày tuổi khi nở mệt mỏi lười đi lại, ít canh bới tìm kiếm thức ăn.

Khi xua đuổi gà thấy có 2 triệu chứng:

- Một là gà bị động kinh chạy toán loạn không định hướng cho đến khi đâm vào vật cản thì lăn ra giãy dụa, quay tít mù. Hai là chúng bất động nằm với các tư thế khác nhau mặc cho ta xua đuổi….

- Ở những gà ốm đó các cơ đầu, cơ cổ co giật, ngón chân dúm lại, gà kiệt sức dần do không kiếm được thức ăn, nước uống, chúng chết do đói, khát và bị con khỏe dẫm lên hoặc do bệnh kế phát. Tỷ lệ chết giao động từ 5- 30%.

- Một số khác thì run rẩy đi không vững hay ngã khi bị xua đuổi vì thế bệnh AE còn có tên là dịch run rẩy gà.

- Số còn lại bình phục dần và để lại di chứng mắt bị đục thủy tinh thể.

3.2. Đối với gà trên 50 ngày tuổi và gà đẻ.

Bệnh phát ra âm thầm và nhẹ nhàng làm cho người chăn nuôi khó biết. Riêng ở gà đẻ thì sản lượng trứng bị giảm mạnh từ 5- 40%, thậm chí trên 50%, có đàn tắt đẻ luôn, sau khi bệnh qua khỏi thì một số con mắt bị mờ đục.

4. Mổ khám bệnh tích

Không có tổn thương gì nếu không có bệnh ghép.

5. Chẩn đoán

Dựa vào đặc điểm dịch tễ, triệu chứng lâm sàng điển hình để chẩn đoán bệnh viêm não tủy và màng não. Khi làm tiêu bản vi thể thấy vỡ thành mao mạch não, các noron thần kinh bị thoái hóa, thâm nhập tế bào lympho ở dạ dày tuyến, tụy,… nếu cần thì phân lập virus AEV.

6. Chẩn đoán phân biệt

6.1. Đối với gà con bị viêm não tủy và mãng nào cần phân biệt

a. Với bệnh gà lùn (hội chứng còi cọc). Bênh viêm não tủy và màng não không có hiện tượng tiêu chảy hàng loạt, không có hiện tượng viêm đầu cơ ngực, đùi, không có các biến đổi ở ruột, tụy,..

b. Ngoài ra bện viêm não tủy cần phân biệt với bệnh viêm não xốp, nhưng ở nước ta chưa có bệnh này.

6.2. Đối với gà đẻ

Cần phân biệt với hội chứng giảm đẻ. Ở các 2 bệnh đều gây ra tỷ lệ giảm đẻ 40- 50%, song ở dịch run rẩy có thêm các di chứng như đục thủy tinh thể ở mắt.

7. Điều trị

Bệnh không có thuốc điều trị đặc hiệu, tuy nhiên chung ta có thể hạn chế số gà tử vong và tăng cường sức đề kháng bệnh cho cả đàn gà bằng việc bổ sung vitamin cung cấp điện giản, nước uống đủ cho cơ thể, chọn lọc gà ốm chăm sóc riêng, chống bệnh thứ phát…

Cách thực hiện:

- Hạ thấp máng uống, máng ăn cho sát nền, bắt những gà bệnh đặc biệt là gà nằm bẹp ra nhót riêng, bơm nước thuốc theo 1 trong 2 cacshh sau cho mỗi gà 4- 5ml/lần, ngày bơn 6-8 lần, liên tục trong 3-4 ngày.

- Cho toàn đàn uống:

Cách 1:

+ Super vitamin: 1 thìa canh đầy

+ Bổ gan-lách- thận TA: 40g

+ TĐG Năm Thái: 1 thìa café

+ T.Colivit 10g/gói: 1-2 gói

Pha thuốc vào 15- 20lits nước cho 100kg trọng lượng gà. Sau đó dùng tiếp Super vitamin trog 2- 3 tuần nữa

Cách 2:

+ Doxyvit. Thái: 1 thìa canh đầy

+ Giải độc gan (TA.Sorbitol B12): 40g

+ TĐG Năm Thái: 1 thìa café

+ T.Avimycin : 20g

Cách dùng tương tự như trên, sau đó dùng thêm Doxyvit. Thái trong 3 tuần nữa.

8. Phòng bệnh

- Không nên dùng những đàn gà viêm não tủy làm giống, vì chúng phát tán bệnh đi khắp nơi qua phôi trứng.

- Những cơ sở chăn nuôi mà bệnh AE chưa xảy ra lần nào trước đó, nay nếu phát bệnh thì cần tiêu hủy đàn gà triệt để để mầm bệnh không lây lan.

- Những cơ sở chăn nuôi đã có bệnh thì cần phải tiêm vacxin, nhưng chú ý không được tiêm phòng vacxin nhược độc cho đàn gà mà ở đó có nhiều đàn khác với lứa tuổi khác nhau vì virus vacxin có thể truyền ngang và gây bệnh cho đàn gà con với lứa tuổi bé hơn.

Các vacxin thông dụng là:

+ Myelovac- vacxin nhược độc của Pháp: pha nước uống lần 1 khi gà 10 – 15 ngày tuổi, lần 2 khi gà 5 tháng tuổi.

+ Cevac- tremor L. chủng Calnek 1143- vacxin nhược độc của Canada, lần 1 cho uống lúc gà 70- 80 ngày tuổi, lần 2 lúc gà 5 tháng tuổi.

+ TAD- AE- VAC chủng Calnek 1143 của Đức, là vacxin sống nhược độc cho uống lần 1 lúc gà 10 tuần tuổi, lần 2 lúc gà 20 tuần tuổi.

                                                                                      Quốc Vũ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Minh Nga

NỔI BẬT TRANG CHỦ