• Đường dây nóng

    0901.22.33.66 - toasoan@toquoc.gov.vn

  • Liên hệ quảng cáo

    091.358.6788

Năm 2023: Quy mô nợ công/GDP của Việt Nam ước khoảng 37%

Thời sự 20/05/2024 16:16

(Tổ Quốc) - Tiếp theo Chương trình làm việc tại Kỳ họp thứ 7, chiều 20/5, Quốc hội nghe báo cáo về Kết quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong năm 2023 cũng như thẩm tra về nội dung này.

Năm 2023: Quy mô nợ công/GDP của Việt Nam ước khoảng 37%  - Ảnh 1.

Quang cảnh phiên họp chiều 20/5

Năm 2023, kinh phí, vốn nhà nước tiết kiệm là 83 nghìn tỷ đồng

Thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc đã trình bày báo cáo về Kết quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong năm 2023. Theo ông Hồ Đức Phớc, năm 2023, công tác thực hành tiết kiệm (TK), chống lãng phí (CLP) được đẩy mạnh và phát huy trên nhiều lĩnh vực, góp phần huy động, quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, vật lực, tài lực, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội của đất nước.

Bộ trưởng Bộ Tài chính cho biết, thu ngân sách Nhà nước năm 2023 thực hiện đạt 1.754,1 nghìn tỷ đồng, tăng 133,4 nghìn tỷ đồng (tăng 8,2% so dự toán). Thực hiện các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất gần 194 nghìn tỷ đồng. Chi ngân sách Nhà nước năm 2023 ước đạt 2.109,9 nghìn tỷ đồng, bằng 101,6% dự toán, tăng gần 74 nghìn tỷ đồng.

Công tác điều hành chi ngân sách Nhà nước được thực hiện chủ động, chặt chẽ theo dự toán, đảm bảo đúng chính sách, chế độ, triệt để tiết kiệm chi thường xuyên, cắt giảm những nhiệm vụ chi chưa cần thiết, chậm triển khai. Tổng số tiết kiệm kinh phí, vốn nhà nước năm 2023 theo báo cáo của các bộ, ngành, địa phương là 83 nghìn tỷ đồng.

Năm 2023: Quy mô nợ công/GDP của Việt Nam ước khoảng 37%  - Ảnh 2.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc trình bày báo cáo về Kết quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong năm 2023.

Đến cuối năm 2023 quy mô nợ công/GDP ước khoảng 37%, nợ Chính phủ/GDP ước khoảng 34% và nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ/Thu NSNN khoảng 19%, trong phạm vi Quốc hội cho phép. Ước vay, trả nợ Chính phủ bảo lãnh năm 2023 trong hạn mức được duyệt, tổng dư nợ bảo lãnh đến ngày 31/12/2023 ước khoảng 279.719 tỷ đồng, tương đương khoảng 2,7% GDP, giảm 18.243 tỷ đồng so với năm 2022.

Công tác quản lý, mua sắm tài sản công tại các bộ, ngành và địa phương năm 2023 tiếp tục chuyển biến, đảm bảo chặt chẽ, tiết kiệm. Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công tiếp tục được cập nhật vận hành có hiệu quả, tính đến ngày 31/12/2023, đã cập nhật 2,23 triệu tài sản với nguyên giá là 2,3 triệu tỷ đồng.

Cải cách thể chế về đầu tư công tiếp tục được quan tâm, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong triển khai dự án, góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện giải ngân vốn đầu tư công. Lũy kế thanh toán từ đầu năm 2023 đến ngày 31/01/2024 là 661,7 nghìn tỷ đồng, đạt 80,75% kế hoạch, đạt 92,99% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Việc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công góp phần khởi công mới, đẩy nhanh tiến độ triển khai nhiều dự án, công trình hạ tầng trọng điểm quốc gia. Tuy nhiên, còn 91/115 bộ, ngành, địa phương có kết quả giải ngân lũy kế 13 tháng thấp hơn bình quân cả nước.

Chính phủ đã ban hành 27 Nghị định về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; các bộ, ngành đã giảm 17 tổng cục và tương đương; giảm 10 Cục và 144 Vụ/Ban thuộc tổng cục và thuộc bộ; giảm 108 phòng trong Vụ/Ban thuộc bộ, ngành; giảm 22 đơn vị sự nghiệp công lập.

Các địa phương giảm 13 sở và tổ chức hành chính khác thuộc UBND cấp tỉnh; 2.572 tổ chức phòng thuộc cơ quan chuyên môn UBND cấp tỉnh, cấp huyện. Tính đến hết năm 2023 đã giảm 7.867 đơn vị sự nghiệp công lập (năm 2023 giảm 236 đơn vị), còn 46.385 đơn vị sự nghiệp công lập. Số đối tượng tinh giản biên chế năm 2023 là 7.151 người.

Các bộ, cơ quan đã ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành 30 văn bản để cắt giảm, đơn giản hóa 341 quy định kinh doanh, đơn giản hóa 528/1.086 thủ tục hành chính. Tuy nhiên, cắt giảm thủ tục hành chính có lúc, có nơi còn chậm, chưa kịp thời, quyết liệt; thủ tục hành chính một số lĩnh vực vẫn còn rườm rà, phức tạp, gây khó khăn cho người dân, doanh nghiệp. Việc sắp xếp, kiện toàn tinh gọn bộ máy, giảm đầu mối, giảm cấp trung gian còn một số bất cập.

Năm 2023, ngành Thanh tra đã triển khai 7.689 cuộc thanh tra hành chính và 193.774 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành (đã lồng ghép nội dung thanh tra THTK, CLP vào nội dung thanh tra trách nhiệm, thanh tra hành chính); phát hiện vi phạm về kinh tế 257,7 nghìn tỷ đồng, 616 ha đất; kiến nghị thu hồi 188,6 nghìn tỷ đồng và 166 ha đất.

Chưa có giải pháp kiên quyết và biện pháp khắc phục triệt để, hữu hiệu trong giải ngân vốn đầu tư công

Thẩm tra nội dung này, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính ngân sách (TCNS) Lê Quang Mạnh cho biết, Ủy ban TCNS cơ bản tán thành với Báo cáo của Chính phủ. Báo cáo đã thể hiện khái quát, toàn diện các nội dung theo quy định của Luật THTK, CLP; các phụ lục thống kê khá đầy đủ, chi tiết. Nhận thức, trách nhiệm về THTK, CLP được cải thiện, công tác hoàn thiện thể chế, ban hành chương trình THTK, CLP tích cực, chủ động, thể hiện tính kế thừa và phát triển.

Năm 2023: Quy mô nợ công/GDP của Việt Nam ước khoảng 37%  - Ảnh 3.

Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính ngân sách Lê Quang Mạnh trình bày báo cáo thẩm tra

Về công tác hoàn thiện thể chế, ban hành và triển khai các chương trình THTK, CLP, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương theo thẩm quyền ban hành nhiều giải pháp thực hiện chính sách tài khóa, miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí và các khoản thu ngân sách; thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, hỗ trợ người dân, doanh nghiệp phục hồi sản xuất, kinh doanh; cơ cấu lại các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu; sắp xếp tổ chức, bộ máy hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập.

Năm 2023, các Bộ, ngành đã ban hành khoảng 223 văn bản quy phạm pháp luật quy định về quy chuẩn, tiêu chuẩn, chế độ, định mức trên nhiều lĩnh vực như: tài chính - ngân sách, ngân hàng; giao thông - vận tải, xây dựng; tài nguyên - môi trường; y tế, văn hóa, giáo dục.

Công tác quản lý, sử dụng tài sản công cơ bản chặt chẽ, tiết kiệm từ khâu đầu tư, mua sắm đến khai thác, sử dụng. Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công tiếp tục cập nhật, bước đầu vận hành có hiệu quả. Nhiều Bộ, ngành, địa phương thực hiện tốt việc rà soát, sắp xếp, bố trí lại trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp.

Chính sách pháp luật về quản lý, sử dụng tài nguyên được quan tâm, hoàn thiện. Công tác thanh tra, kiểm tra, quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản được tăng cường.

Công tác xử lý các dự án, doanh nghiệp chậm tiến độ, kém hiệu quả tiếp tục đạt được kết quả khả quan nhất định. Một số dự án, doanh nghiệp có lãi, giảm lỗ lũy kế, đóng góp cho NSNN, giảm dư nợ trung hạn và dài hạn, duy trì việc làm, bảo đảm đời sống cho người lao động.

Về tồn tại, hạn chế, ông Lê Quang Mạnh cho biết, công tác hoàn thiện thể chế còn có những tồn tại, hạn chế chưa được khắc phục. Một số Bộ, ngành chưa thực hiện đúng kế hoạch lập pháp, còn tình trạng chậm đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; tình trạng chậm ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật, Pháp lệnh tiếp tục diễn ra.

Một số quy định về định mức, tiêu chuẩn, chế độ không còn phù hợp với thực tế, chậm được sửa đổi, bổ sung; tình trạng vi phạm các định mức, tiêu chuẩn, chế độ còn xảy ra tại một số cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Tình trạng chậm phân bổ ngân sách, đặc biệt là phân bổ nguồn tăng thu, tiết kiệm chi NSTW năm 2022 đến gần cuối năm mới được thực hiện. Chi chuyển nguồn còn lớn, chậm được khắc phục, gây lãng phí và giảm hiệu quả sử dụng nguồn vốn. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công tại một số Bộ, ngành, địa phương chậm do nhiều nguyên nhân đã được chỉ ra trong các báo cáo, trong nhiều năm vừa qua, nhưng chưa có giải pháp kiên quyết và biện pháp khắc phục triệt để, hữu hiệu.

Kết quả xây dựng và vận hành Cơ sở dữ liệu đất đai không đạt tiến độ, chưa đáp ứng được yêu cầu. Việc tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử đụng đất tại một số địa phương còn chậm; việc phê duyệt quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất chưa sát với nhu cầu; chất lượng lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở các địa phương chưa cao. Còn 404/908 dự án, công trình không đưa đất vào sử dụng, chậm đưa đất vào sử dụng với diện tích là 18.308/28.155 ha chưa được xử lý




Thế Công - Xuân Trường

Từ khóa:

NỔI BẬT TRANG CHỦ