Lâu nay trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn chúng ta thường được nghe nói nhiều tới vấn đề ''xã hội hóa"? Một yêu cầu bức thiết song lại vô cùng nan giải. Đối với nghệ thuật biểu diễn nói chung đã vậy, còn với nghệ thuật Múa thì cấp độ nan giải lại càng có nguy cơ cao hơn.
Lâu nay trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn chúng ta thường được nghe nói nhiều tới vấn đề ''xã hội hóa"? Một yêu cầu bức thiết song lại vô cùng nan giải. Đối với nghệ thuật biểu diễn nói chung đã vậy, còn với nghệ thuật Múa thì cấp độ nan giải lại càng có nguy cơ cao hơn.
Khi đề cập tới vấn đề "xã hội hóa" hầu như mọi người thường chỉ nghĩ đến kinh tế của nó- Theo cách hiểu đơn giản này thì "xã hội hóa'' đồng nghĩa là phải tự lo, tự cân đối thu chi để giảm bớt gánh nặng cho xã hội! Và trong chừng mực nào đó thì chúng ta cũng đã đạt được một số thành công. Đó là, một loạt các vũ đoàn được mọc ra như nấm rừng sau cơn mưa. Theo con số được ghi nhận thì chỉ riêng ở thành phố Hồ Chí Minh cũng đã có tới hơn 40 vũ đoàn, trong đó có những vũ đoàn mạnh được coi là "ăn nên, làm ra'' như: Vũ đoàn Kim Quy, vũ đoàn Rex, Vũ đoàn Phương Nam, Vũ đoàn những ngôi sao nhỏ, Vũ đoàn Hoàng Thông... Những vũ đoàn này có tướng tài, quân giỏi, có chương trình, tác phẩm của riêng mình, biểu diễn thường xuyên. Còn lại phần lớn chỉ dừng lại ở trình độ các ban, nhóm, xào xáo lại tiết mục của các đoàn khác hoặc nhảy nhót, phụ họa cho các ca sĩ là chủ yếu, ít khi biểu diên tiết mục độc lập ở các sân khấu lớn và chất lượng nghệ thuật thì quá tệ, khó có thể công nhận đó là nghệ thuật Múa chuyên nghiệp. Tuy vậy họ vẫn hoạt động nhiều buổi, nhiều ngày trong tuần tại các tụ điểm, nhà hàng, vũ trường và ''sống được'' nhất là với các ông bà ''bầu sô, trưởng gánh! ở Hà Nội và một vài tỉnh, thành phố lớn cũng có các nhóm nhảy múa hoạt động ở các vũ trường, sàn diễn nhưng số có ''thương hiệu riêng" thì còn quá ít, chỉ có đoàn múa ''Khám phá'' của Tuyết Minh - Hồng Phong là thực sự chuyên tâm về nghệ thuật, các em rất năng động tìm kiếm tài trợ, dàn dựng được những tiết mục khá nghiêm chỉnh thậm chí cả các vở diễn lớn thuộc thể loại kịch múa như ''Các - men'', ''Quan Âm Thị Kính'' và mới đây là vở múa hiện đại ''Bên trong, bên ngoài" được tổ chức biểu diễn công phu, có hiệu quả, gây được tiếng vang lớn. Dư luận có khen, có chê, song mọi người đều đã thừa nhận đó là một việc làm táo bạo, dũng cảm, dám ''tử vì nghệ'' của các biên đạo, nghệ sĩ trẻ cần được khuyến khích ủng hộ.
Điều băn khoăn lớn nhất với đa số các tổ chức ''xã hội hóa'' múa này là vì sinh kế nên hiện tượng chạy theo thị hiếu của một bộ phận khán giả là không thể tránh khỏi. Việc sáng tác tác phẩm, biên soạn tiết mục, chương trình thường quá tuỳ tiện, dễ dãi. Diễn viên mê mải chạy sô nhiều, nên không có thì giờ để tập luyện nghiêm chỉnh, chưa có sự đầu tư kỹ thuật, do đó không ít tiết mục hàng chợ kém chất lượng và diễn viên biểu diễn như những con rối vô cảm, thậm chí cẩu thả, tuỳ tiện, múa mà chẳng hiểu mình múa cho ai, múa cái gì và không thẻ gọi đó là múa chuyên nghiệp.
Để khắc phục được những vấn đề tồn tại đó, trước hết các nhà quản lý cần phải để mắt nhiều hơn đến các tổ chức xã hội hóa này. Tấm thẻ đăng ký hành nghề đã một thời tưởng như cản trở cho ''Sự nghiệp xã hội hóa'' thì nay cũng cần phải khôi phục lại. Đây là ý nguyện, mong muốn của nhiều người trong đó có cả các nghệ sĩ, diễn viên có lòng tự trọng, muốn giữ gìn danh dự, bảo vệ uy tín nghề nghiệp của mình. Đồng thời, cần phải có quy chế với các ban, nhóm, vũ đoàn và hướng cho họ khi xây dựng chương trình, tiết mục cần chú ý đến tính giáo dục, mang lại giá trị thẩm mĩ cho khán giả, không chỉ chạy theo thị hiếu với mục đích giải trí đơn thuần. Đó mới là mục tiêu chính của "xã hội hóa nghệ thuật''.
Các nghệ sĩ của chúng ta đã hưởng ứng chủ trương này một cách tích cực. Thật ra thì nhiều năm trước đây, văn hóa nghệ thuật của chúng ta cũng đã ''xã hội hóa'' theo chiều hướng này. Những năm kháng chiến chống Mỹ, các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp với các tổ chức, biên chế khác nhau: Từ các đoàn lớn đến các tổ, đội xung kích đã đi sâu vào các làng bản, biên giới, hải đảo... lên công trường, ra chiến hào, vào xưởng máy, nông trường.v.v...để biểu diễn phục vụ rộng rãi cho đồng bào các dân tộc, công nhân, nông dân, chiến sĩ...và nhiều nghệ sĩ còn trực tiếp ở lại đi thực tế, xây dựng, giúp đỡ phát triển nghệ thuật hát, múa quần chúng. Trong những năm tháng hào hùng, gian khổ đó văn hóa nghệ thuật đã thực sự có một tác dụng xã hội lớn lao, được sự hưởng ứng hoan nghênh, của cong chúng.
Khi thực hiện chính sách kinh tế thị trường, nghệ thuật múa đã có phần bị chao đảo. Bớt những "kinh phí bao cấp" để cho các đoàn đi lưu diễn vùng sâu, vùng xa với một đội ngũ nghệ sĩ, diễn viên múa hùng hậu. Các đoàn ''dám chịu chơi'' cũng chỉ còn dàn dựng, biểu diễn các tiết mục múa ngắn, ít người với số diễn viên khiêm tốn, còn nếu phải đi biểu diễn xa thì chỉ mang theo múa ít người (So lo, Dua) hoặc múa minh họa, phụ họa cho ca sĩ là chủ yếu và có thể nói, khán giả ở các miền núi cao, hải đảo, vùng sâu, vùng xa mà hầu hết là quần chúng lao động, công nhân, nông dân, chiến sĩ đã không còn được thưởng thức những tác phẩm, tiết mục múa có giá trị đích thực. bởi lẽ, hầu hết các đoàn nghệ thuật bây giờ đều phải tự lo miếng cơm, manh áo. Biên chế cồng kềnh đã trở nên quá nặng gánh. Từ các khâu mua sam trang thiết bị, may mặc trang phục, đạo cụ đến di chuyển lưu diễn, ăn ở, lưu trú, bồi dưỡng diễn viên... đều quá tải. Do vậy, để đưa nghệ thuật đến với công chúng, để nghệ thuật múa thực sự tham gia vào đời sống xã hội...có vẻ bị xem nhẹ. Cho tới đầu thập niên 90 của thế kỷ trước khi tình hình kinh tế của đất nước đã có những tín hiệu khả quan, đời sống vật chất của đại bộ phận nhân dân ta được nâng cao thì nhu cầu thưởng thức văn hóa nghệ thuật cũng tăng lên, đòi hỏi các đoàn nghệ thuật phải có sự chuyển biến mới. Các đoàn nghệ thuật lúc này chẳng thể ngồi yên chờ phép màu nhiệm từ trên trời rơi xuống. Nhiều đơn vị đã tính tới các biện pháp, phương thức mới trước hết là để "tự cứu mình''. Nghệ thuật múa cũng dần dần trở lại với sân khấu và lại được người xem đón nhận. Trong những cuộc liên hoan, hội diễn ca múa nhạc chuyên nghiệp toàn quốc, các vị chủ tịch hội đồng giám khảo cũng đã nhận định trong bản tổng kết: nghệ thuật múa trong hội diễn đã có sự khởi sắc, có nhiều tác phẩm, tiết mục múa xuất sắc xứng đáng được những giải thưởng cao.v.v,..''.
Có những đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp đã thể hiện được sự năng động, nhạy bén của mình, tính cách liên kết, tìm nhà tài trợ để tổ chức dàn dựng những chương trình múa lớn, đưa nghệ thuật múa giới thiệu rộng rãi trong các nhà trường cơ quan, xí nghiệp.v.v... Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam; Nhà hát ca múa nhạc Việt Nam; Nhà hát Giao hưởng và Vũ kịch thành phố Hồ Chí Minh; Đoàn Ca múa quân đội; Đoàn Nghệ thuật bộ đội Biên phòng.v.v...hàng năm vẫn đảm bảo vượt chỉ tiêu về số buổi biểu diễn và số lượt người xem. Các đoàn địa phương cũng chịu khó đi biểu diễn vùũng sâu, xa, biên giới, hải đảo, phục vụ hội nhân dân...nhằm tìm lại khán giả cho nghệ thuật Múa. Đặc biệt là Nhà hát Nhạc nhẹ Trung ương, từ chỗ chỉ có một đội múa rất ít ỏi, chuyên múa ít người, múa minh họa trong các chương trình ca nhạc nhẹ cũng dần dần tìm kiếm dàn dựng các tác phẩm múa mới trên cơ sở ngôn ngữ, chất liệu múa dân gian, dân tộc với lòng mong muốn, phấn đấu vươn tới một phong cách Nhạc dân tộc Việt Nam; đồng thời, thể hiện tính năng động, sáng tạo trong việc tìm đối tác và mở rộng địa bàn hoạt động, biểu diễn khắp trong cả nước thu hút được nhiều diễn viên trẻ, xuất sắc, gây được ''thương hiệu''. Nhà hát Nhạc nhẹ Trung ương có thể coi là một đơn vị nghệ thuật "xã hội hóa" có hiệu quả.
Những năm gần đây nghệ thuật múa càng được công chúng tiếp nhận hơn. Các chương trình lễ hội, kỷ niệm lớn trong toàn quốc không thể nào thiếu vắng các màn, cảnh múa như: Seagames 22; Đại hội thể dục, thể thao toàn quốc; Các lễ hội Văn hóa - du lịch; Quốc khánh; Biểu diễn nghệ thuật mừng Xuân..v.v...đầy ắp các tiết mục, hình ảnh của nghệ thuật Múa. Múa đã đi vào đời sống xã hội, 1à một món ăn tinh thần không thể thiếu...
Dẫu đạt được những thành tích như vậy nhưng chúng ta vẫn chẳng thỏa mãn với chất lượng các tác phẩm múa thời gian gần đây chưa thật cao; thiếu vắng những tác phẩm quy mô, hoành tráng của nghệ thuật múa, đỉnh cao đó là kịch múa. Thật vậy, tác phẩm múa dựng hàng năm tới con số hàng trăm nhưng đời sống sân khấu lại quá ngắn. Năm nào cũng có các tác phẩm đạt giải A, giải B ; huy chương vàng, bạc của hội diễn... vậy mà mỗi khi chọn các tiết mục đi liên hoan, biểu diễn ở nước ngoài hoặc tiếp khách quốc tế...các nhà tuyển chọn, sắp xếp chương trình đều gặp khó khăn; không ít trường hợp phải chọn lại những tác phẩm cũ của ba, bốn chục năm trước như Nón Thái, KaTu, Tuần đuốc.v.v...
Trước 1985 sân khấu Múa Việt Nam đã xuất hiện nhiều vở kịch múa dân tộc như: Tấm Cám, Ngọn lửa Nghệ Tĩnh (1960), Rừng thương núi nhớ (1965), Chị Sứ (1972)...hay các vở ballet nước ngoài như; Hồ Thiên Nga (1984)...nhưng nay chẳng mấy ai còn quan tâm đến kịch múa . Người xem cũng chẳng hào hứng với kịch múa và các thể loại múa tình tiết mà chỉ thích xem múa như một loại hình nghệ thuật giải trí thuần túy. Thiết nghĩ để xã hội hóa nghệ thuật nói chung hay Xã hội hóa Múa nói riêng không thể chỉ chú ý đến vấn đề kinh tế, bởi nếu chỉ như vậy thì nghệ thuật sẽ càng ngày càng xa rời những chức năng giáo dục, thẩm mỹ. Với nghệ thuật biểu diễn, vẫn cần phải có sự bao cấp - nhưng là bao cấp có trọng điểm. Nghệ thuật Múa dân gian, dân tộc; Nghệ thuật Múa đỉnh cao (kịch múa) phải có những sự đầu tư thích đáng; tạo điều kiện cho các biên đạo trẻ, có tài năng thực sự đi đào tạo ở các nước như: Trung Quốc, Nga, Pháp... Đồng thời, phải có kế hoạch, chiến lược đào tạo cho nghệ thuật múa, có kế hoạch, chie tiêu bắt buộc với các đoàn nghệ thuật đi lưu diễn ở các vùng sâu, xa ( vì hiện nay còn thiếu sự hiện diện của nghệ thuật biểu diễn và các loại hình giải trí).
Có thể đây là những mong muốn, mơ ước và còn có thể thiếu thực tế, song để làm cho nghệ thuật Múa nói riêng và nghệ thuật biểu diễn nói chung phát triển toàn diện trong đời sống xã hội thì cần có sự đổi mới mạnh mẽ và tiến hành đồng bộ những giải pháp khả thi.
Q.T (Theo CPV)